Trang chủ English Forum Liên lạc Sơ đồ Tìm kiếm:


số lượt truy cập
1162518

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trang chủ » Tin tức » Vấn đề quan tâm » Năm 2008 » Tháng 2 » Bộ Thông tin và Truyền thông trả lời trực tuyến
Bộ Thông tin và Truyền thông trả lời trực tuyến
Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng trả lời trực tuyến những vấn đề dư luận xã hội quan tâm liên quan đến sự phát triển của ngành công nghệ thông tin Việt Nam.


Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng (ngồi giữa) đang trả lời trực tuyến. Ảnh: Thanh Hải

Ngày 29/02/2008, bắt đầu từ lúc 8h30, tại trụ sở Bộ Thông tin và Truyền thông, Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng đăng đàn trực tuyến để giải đáp mọi thắc mắc của người dân về các vấn đề Công nghiệp CNTT, Ứng dụng CNTT, Cơ sở hạ tầng thông tin, An toàn an ninh thông tin và Phát triển nguồn nhân lực CNTT.

Trước khi buổi giao lưu này diễn ra, ICTnews đã nhận được nhiều câu hỏi của độc giả gửi về. ICTnews đã chuyển mọi câu hỏi tới Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng. Cuộc trả lời trực tuyến này được thực hiện trên trang Web Bộ Thông tin và Truyền thông www.mic.gov.vn và đăng tải toàn bộ trên ICTnews.

Trân trọng kính mời độc giả theo dõi và tiếp tục đặt câu hỏi tới buổi trực tuyến này qua ICTnews (ictnews@mic.gov.vn) hoặc www.mic.gov.vn/giaoluu.

Việc triển khai các dự án ứng dụng CNTT hiện nay rất khó khăn do thiếu định chế về định giá, nhất là định giá phần mềm. Tôi cũng đã không ít lần đọc thông tin về việc Bộ TT-TT xây dựng văn bản về vấn đề này, nhưng đến nay vẫn chưa thấy. Trong khi đó, việc triển khai các dự án ứng dụng CNTT sẽ tiếp tục tắc nếu thiếu cơ sở định giá dự án CNTT. Xin Thứ trưởng cho biết khi nào thì vấn đề này được giải quyết? (Ngô Vĩnh Long, Đồng Tháp)

Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng: Tôi xin được trả lời trực tiếp câu hỏi này như sau: Đúng như bạn đã nêu vấn đề. Một trong những khó khăn chính về triển khai ứng dụng CNTT là chưa có định mức xây dựng phần mềm ứng dụng. Các định mức này cần được xây dựng phù hợp với một quy trình quản lý đầu tư thích hợp, và có những tính chất đặc thù riêng cho dự án ứng dụng CNTT. Để khắc phục vấn đề trên, Bộ TT&TT đã xây dựng dự thảo Nghị định quản lý đầu tư dự án ứng dụng CNTT sử dụng vốn nhà nước. Hiện Bộ đã giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của các Bộ ngành, dự kiến trình Chính phủ dự thảo Nghị định trong quý I năm 2008. Những vấn đề trên đã được phản ánh trong dự thảo Nghị định. Ví dụ như Quy trình quản lý đầu tư dự án ứng dụng CNTT yêu cầu dự án phải thực hiện việc lập kế hoạch, phân tích, thiết kế, lập trình, kiểm thử, chuyển giao. Trong đó áp dụng các phương pháp định giá phần mềm mà quốc tế thường sử dụng như Phân tích điểm chức năng, Phân tích trường hợp sử dụng… Bộ cũng đang tích cực chuẩn bị các văn bản hướng dẫn để ngay sau khi Nghị định được thông qua, chúng ta sẽ có quy định cụ thể tạo thuận lợi cho việc triển khai các dự án ứng dụng CNTT.

Bộ TT&TT đang xây dựng khung tương hợp về chính phủ điện tử nhằm tạo sự thống nhất giữa các hệ thống thông tin trong cơ quan nhà nước. Xin Thứ trưởng cho biết tiến độ triển khai dự án này? Trong khi chưa có khung tương hợp này, các bộ ngành và địa phương cần làm gì để đảm bảo khả năng tương thích sau này? (Nguyễn Hưng)

Luật CNTT quy định nguyên tắc các cơ quan nhà nước phải sử dụng thống nhất tiêu chuẩn, bảo đảm tính tương thích về công nghệ trong toàn bộ hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước. Thực hiện quy định này, Bộ TT&TT đã tổ chức nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật cần thiết. Trong quá trình nghiên cứu, Bộ TT&TT nhận thấy một số nước ban hành khung tương hợp Chính phủ điện tử, một số nước ban hành các tiêu chuẩn CNTT. Trên cơ sở thực tiễn ứng dụng CNTT ở Việt nam và kinh nghiệm các nước, Bộ TT&TT đã xây dựng và dự kiến sẽ ban hành trong tháng 3 năm 2008 “Quy định hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực CNTT”. Trong khi chưa có Quy định, các bộ, ngành, địa phương có thể lựa chọn tiêu chuẩn dựa trên các nguyên tắc sau: - Tiêu chuẩn quốc tế hoặc tiêu chuẩn thực tế (de facto) đã ổn định và được ngành công nghiệp hỗ trợ rộng rãi; - Các tiêu chuẩn mở đã ổn định, được chấp nhận rộng rãi được ưu tiên hơn các tiêu chuẩn đóng (proprietary) trong cùng lĩnh vực; - Do Internet là môi trường giao dich điện tử chủ yếu nên ưu tiên lựa chọn các tiêu chuẩn liên quan đến Internet (W3C, IETF); - Các thông số kỹ thuật được lựa chọn phải độc lập với nhà cung cấp sản phẩm càng nhiều càng tốt.

Kính thưa thứ trưởng! Hiện nay đề án 112 của Chính phủ đã đi vào dĩ vãng, việc tạm ngừng đề án 112 có chút gì đó làm chậm tốc độ phát triển CNTT trong các cơ quan nhà nước. Theo thứ trưởng thì Bộ TT&TT đã có những bước đi gì để cải thiện tình hình và thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa trong việc ứng dụng CNTT của các cơ quan QLNN nói riêng và của toàn xã hội nói chung? Ngoài việc hướng dẫn lập kế hoạch 64 thì Bộ TT&TT còn có những hướng dẫn cụ thể nào hơn nữa không? Chúc thứ trưởng sức khỏe và chúc Bộ TTTT khẳng định được vai trò của mình mà Nhà nước đã giao phó.. . b) Sau khi đề án 112 đổ bể, chấm dứt triển khai. Việc ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước được trông chờ vào chương trình triển khai nghị định 64 do Bộ TT-TT soạn thảo. Nhưng đến nay chương trình này vẫn chưa thấy. Xin Thứ trưởng cho biết vì sao chương trình này lại có sự chậm chễ như vậy? Dự kiến đến bao giờ chương trình này mới được thông qua để tạo sự thúc đẩy cho ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước? (Phan Anh Tú, Phường Hưng Bình)

Cám ơn lời chúc của bạn Phan Anh Tú. Về câu hỏi của các bạn, cũng như câu hỏi có nội dung tương tự của bạn Nguyễn Vân Anh, Phú Thọ, tôi xin trả lời như sau: Chương trình ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước đã được Bộ TT&TT xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ từ giữa năm 2007. Qua quá trình lấy ý kiến đồng thuận của các Bộ, các địa phương có nhiều yêu cầu mới được đặt ra. Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân tại cuộc họp ngày 28/12/2007(thông báo số 05/TB-VPCP ngày 10/1/2008 của Văn phòng Chính phủ), Bộ TTTT đã khẩn trương xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước năm 2008 (dự kiến phê duyệt trong tháng 3 năm 2008). Ngay sau khi Kế hoạch này được phê duyệt, Bộ TT&TT sẽ tổ chức thực hiện nhằm giải quyết một số vấn đề cấp bách. Đồng thời, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước năm 2009-2010 (dự kiến phê duyệt trong Quý III/2008).

Xin hỏi Thứ trưởng hiện nay các cơ quan nhà nước đang có hiện tượng chảy máu chất xám ICT. Bộ TT&TT đã có những giải pháp gì để ngăn chặn tình trạng này (Nguyễn Tuấn Hòa, Nam, 30 tuổi, Tp Thanh Hóa).

Đúng là cán bộ viên chức quá chênh lệch so với mặt bằng thu nhập chung của ngành thông tin truyền thông, dẫn tới hiện tượng chảy máu chất xám. Nhiều công chức chuyển sang DN trong và ngoài nước, ảnh hưởng trển khai CNTT trong cơ quan nhà nước, bộ TTT cũng rất lo ngại về vấn đề này. Bộ hiện đang nghiên cứu đề xuất cơ chế đặc thù về thu nhập, để giữ và thu hút cán bộ thông tin giỏi làm việc trong cơ quan nhà nước.

Về kiến trúc chính phủ điện tử: +/ Về kiến trúc chính quyền điện tử: Theo quyết định 777/QĐ-TTG ngày 10 tháng 8 năm 2005 về phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi dự án “Phát triển Công nghệ thông tin, Truyền thông tại Việt Nam”, ba thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng có mục tiêu dự án tương tự nhau. Đặc biệt cả ba tiểu dự án đều có nội dung thiết kế kiến trúc của chính quyền điện tử thành phố.. Theo ý kiến của Sở Bưu chính, Viễn thông TP Hồ Chí Minh, ba thành phố có tổ chức bộ máy giống như nhau, nội dung ba tiểu dự án có nội dung tương tự nhau nhưng ba tiểu dự án này lại triển khai một cách độc lập với nhau. Điều này sẽ dẫn tới một công việc được làm nhiều lần nên có thể sẽ gây lãng phí về thời gian và kinh phí.. Đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông và Ban quản lý dự án của Bộ phối hợp cùng các Sở Bưu chính, Viễn thông, Ban Quản lý dự án của ba tiểu dự án rà soát và đưa ra các điểm chung nhất của ba tiểu dự án. Theo ý kiến của Sở Bưu chính Viễn thông Tp Hồ Chí Minh, nội dung chung có thể thấy được ngay là kiến trúc của chính quyền điện tử ở ba thành phố. Nội dung này có thể chỉ cần thực hiện tại một tiểu dự án, các tiểu dự án còn lại sử dụng kết quả của tiểu dự án này, làm như vậy sẽ tiết kiệm được kinh phí, thời gian và tạo ra sự thống nhất chung.. +/ Về kiến trúc của chính quyền điện tử của cả nước:. Việc thiết kế kiến trúc cho ba thành phố lớn là nội dung quan trọng của dự án. Tuy nhiên, hiện nay chưa có kiến trúc Công nghệ thông tin của cả nước, trong tiểu dự án một do Bộ Thông tin Truyền thông làm chủ đầu tư cũng không có nội dung thiết kế kiến trúc của chính quyền điện tử. Hiện nay vẫn còn có ý kiến khác nhau về sự cần thiết của kiến trúc Công nghệ thông tin chung cấp quốc gia. Theo Sở Bưu chính Viễn thông TP Hồ Chí Minh, thiết kế kiến trúc Công nghệ thông tin quốc gia là việc phải làm và thậm chí phải có trước kiến trúc Công nghệ thông tin của ba thành phố lớn... Ý kiến của Bộ như thế nào?  (Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở BCVT TP.HCM).

Về kiến trúc chính quyền điện tử trong dự án phát triển CNTT&TT tại Việt nam: Đối với dự án này, tại 3 hợp phần Hà nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh đều có kiến trúc Chính phủ điện tử. Tuy nhiên, do có đặc thù riêng của từng thành phố nên yêu cầu thiết kế chính quyền điện tử ở 3 thành phố là không thể hoàn toàn giống nhau được. Một hạng mục của Ban điều phối dự án là gói thầu (PCU3) nhằm đưa ra các hạng mục giống nhau của 3 hợp phần nói trên. Gói thầu này đang trong giai đoạn chấm thầu kỹ thuật. Dự kiến kết quả chấm thầu sẽ được gửi WB và Bộ TT&TT trong tháng 3/2008. Về kiến trúc chính quyền điện tử của cả nước: Việc xây dựng kiến trúc CNTT cấp quốc gia là một công việc cần làm để hướng dẫn, tham khảo trong quá trình phát triển Chính phủ điện tử. Theo kinh nghiệm các nước, đây là một quá trình nhiều năm (Đức năm 2002 ra version đầu tiên, và 2006 update ra SAGA version 3.0; Mỹ bắt đầu từ những năm 1999, ra những phiên bản đầu tiên từ những năm 2002, và kế hoạch tiếp tục cho đến năm 2008, Hàn Quốc: Chỉ bắt đầu từ Kế hoạch tổng thể về Chính phủ điện tử lần thứ 2, khoảng 2003-2004 mới bắt đầu xây dựng Kiến trúc CNTT (Information Technology Architecture – ITA) với cách học của Mỹ, sau 02 năm xây dựng mới phổ biến được cho 4 bộ, ngành. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của Kiến trúc CNTT cấp quốc gia, Bộ TTTT đã nghiên cứu kinh nghiệm của các nước về xây dựng Kiến trúc CNTT cấp quốc gia. Từ bài học kinh nghiệm của các nước và thực tiễn ứng dụng CNTT ở Việt nam, Bộ TTTT đã dự thảo Quy định hướng áp dụng tiêu chuẩn trong lĩnh vực CNTT (dự kiến ban hành trong tháng 3 năm 2008). Đây là bước đi ban đầu để tiến tới ban hành Kiến trúc CNTT cấp quốc gia và cũng là cách làm của nhiều nước.

Về Quy hoạch CNTT-TT:- Về triển khai thực hiện các quy hoạch, chương trình: Chính phủ và Bộ đã ban hành nhiều chiến lược, quy hoạch và chương trình phát triển BCVT và CNTT. Đề nghị Bộ tổ chức triển khai và thực hiện các công việc này. Sở Bưu chính, Viễn thông chưa nhận được các hướng dẫn cụ thể trong thực hiện các chương trình phát triển công nghiệp phần mềm, công nghiệp điện tử, công nghiệp nội dung số. Hiện nay đã có quy hoạch phát triển CNTT-TT của các vùng kinh tế trọng điểm, nhiều tỉnh đã phê duyệt quy hoạch trong khi chưa có quy hoạch của cả nước. Bộ TT và TT đang lập quy hoạch này. Có ý kiên cho rằng khi có quy hoạch chung các quy hoạch đã được duyệt sẽ phải chỉnh sửa rất nhiều gây lãng phí. Ý kiến của Bộ như thế nào? Quy hoạch CNTT-TT của các tỉnh thường là do Viện Chiến lược tư vấn. Nhiều người đánh giá các bản quy hoạch này rất giống nhau và kém tính khả thi. Ý kiến của Bộ như thế nào? Có cần thiết phải lập quy họach không? Sở BCVT thành phố kiến nghị Bộ phối hợp với UBND TP quy hoạch các khu CNTT tập trung tạo điều kiện cho phát triển công nghiệp CNTT. Kiến nghị quy hoạch khu C30 với diện tích trên 40 ha do VNPT quản lý thành khu CNTT tập trung do VNPT làm chủ đầu tư. Ý kiến của Bộ thế nào? (Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở BCVT TP.HCM).

Sau khi Thủ tướng Chính phủ ký các Quyết định số 51/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm đến 2010, Quyết định số 56/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp nội dung số đến 2010 và Quyết định 75/2007/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển Công nghiệp điện tử đến 2010 và tầm nhìn đến 2020, Bộ TT&TT đã có văn bản gửi các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn, đôn đốc nhanh chóng triển khai thực hiện các các Chương trình đã được phê duyệt. Để tạo thuận lợi cho việc triển khai, Bộ TT&TT cũng đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Quy chế quản lý Chương trình phát triển CNPM và NDS VN đến năm 2010, dự kiến sẽ được Thủ tướng xem xét phê duyệt sớm.

- Các quy hoạch phát triển CNTT-TT của 3 vùng kinh tế trọng điểm đã được Chính phủ phê duyệt làm cho giai đoạn đến năm 2010, định hướng đến 2020 và quy hoạch phát triển CNTT&TT của các địa phương cũng tập trung cho giai đoạn đến năm 2010 và định hướng đến 2020. Quy hoạch phát triển CNTT&TT Bộ đang xây dựng sẽ tập trung cho giai đoạn 2011 – 2020, do đó sau khi Quy hoạch này được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì phù hợp với việc các địa phương làm quy hoạch chi tiết cho giai đoạn sau 2010.

- Các quy hoạch phát triển CNTT của các tỉnh chủ yếu do Viện Chiến lược tư vấn xây dựng. Các quy hoạch này có cấu trúc tương đối giống nhau vì được xây dựng căn cứ theo Nghị định 92/2006/NĐ-CP của Chính phủ và áp dụng phương pháp luận thống nhất. Tuy nhiên các quy hoạch được xây dựng căn cứ theo quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, hiện trạng CNTT&TT và khả năng huy động nguồn lực của từng địa phương nên mang tính đặc thù.

Các quy hoạch này đều đã được tổ chức lấy ý kiến của các sở ban ngành, doanh nghiệp trên địa bàn, được thẩm định theo đúng các quy định và đã được UBND tỉnh, TP phê duyệt nên có tính khả thi tương đối cao. Việc xây dựng quy hoạch xây dựng và phát triển CNTT tại các địa phương là xuất phát từ quy định của Nghị định 92/2006/NĐ-CP để đảm bảo cho chính quyền địa phương quản lý và phát triển lĩnh vực BCVT và CNTT tại địa phương.

- Về việc Sở BCVT Thành phố kiến nghị Bộ phối hợp với UBND TP quy hoạch các khu CNTT tập trung tạo điều kiện cho phát triển công nghiệp CNTT, tôi cho rằng đây là một việc cần thiết, sắp tới Bộ sẽ xem xét cụ thể vấn đề này, và sẽ giao cho Vụ CNTT chủ trì để phối hợp với Sở BCVT và UBND Thành phố HCM thực hiện công việc này. Riêng đối với quy hoạch khu C30, Bộ sẽ nghiên cứu, và trao đổi thêm với tập đoàn VNPT và UBND Thành phố để có định hướng cụ thể.

Sở BCVT kiến nghị Bộ tổ chức nghiên cứu và đánh giá kết quả của xây dựng và phát triển công viên phần mềm Quang Trung để làm cơ sở cho hình thành và phát triển các khu CNTT mới. Ý kiến của Bộ về vấn đề này? (Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở BCVT TP.HCM).

Việc xem xét, đánh giá các khu CNTT tập trung hiện có, mà điển hình là khu công viên phần mềm Quang Trung, là rất cần thiết nhằm rút kinh nghiệm để định hướng xây dựng và phát triển các khu CNTT mới. Tôi hoàn toàn đồng ý với đề xuất này của Sở BCVT Tp HCM, và sẽ giao Vụ CNTT phối hợp với Sở và các đơn vị liên quan để tổ chức nghiên cứu và đánh giá kết quả, đúc rút kinh nghiệm xây dựng và phát triển công viên phần mềm Quang Trung trong thời gian tới.

Bộ TT-TT có nhận xét gì về trả lời của Bộ Công Thương tại công văn số 0556/BCT–KH ngày 16/1/2007 gửi Bộ TT&TT (Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở BCVT TP.HCM).

Bộ TT&TT thống nhất với ý kiến của Bộ Công Thương tại công văn nêu trên về việc rà soát quy hoạch phát triển công nghiệp vùng KTTĐ phía Nam.

Năm ngoái, Bộ TT&TT thay mặt Chính phủ ký hợp mua bản quyền phần mềm Office với tập đoàn Microsoft. Xin Thứ trưởng cho biết hợp đồng này mua bao nhiêu bản quyền phần mềm Office, dành cho cơ quan nhà nước nào? Vì sao lại có chuyện một số bộ ngành như Bộ Giáo dục Đào tạo khuyến khích toàn ngành giáo dục chuyển sao phần mềm nguồn mở OpenOffice trong khi Chính phủ đã mua phần mềm Microsoft Office có tính năng tương đương? (Nguyễn Hoàng Trọng, TP. Vinh, Nghệ An)

Bộ TT-TT đã thay mặt Chính phủ ký thoả thuận hợp đồng mua bản quyền phần mềm Microsoft Office cho cơ quan nhà nước. Theo Thỏa thuận hợp đồng với Microsoft, cơ quan nhà nước là những cơ quan được nhà nước đảm bảo trên 50% kinh phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị từ nguồn ngân sách nhà nước. - Theo thỏa thuận với Công ty Microsoft (để đảm bảo quyền lợi cho các bên), các số liệu liên quan đến hợp đồng mua bản quyền phần mềm văn phòng của Microsoft là số liệu không được các bên thông báo.

Về việc một số bộ ngành khuyến khích dùng OpenOffice: Do chi phí bản quyền phần mềm thương mại là khá cao so với kinh phí chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước, nên cùng với việc đàm phán với các tập đoàn phần mềm như Microsoft để có được thảo thuận mua phần mềm của họ với giá hợp lý nhất có thể, Việt Nam cũng cần có các giải pháp, chiến lược dài hạn nhằm khuyến khích phát triển các phần mềm của mình, trong đó đặc biệt là khai thác sử dụng phần mềm mã nguồn mở nhằm tăng tính chủ động về công nghệ, giảm dần sự phụ thuộc. Mặt khác, bản quyền phần mềm Microsoft Office đã mua có giới hạn cả về số lượng lẫn thời hạn bản quyền, và là giải pháp trước mắt nhằm đảm bảo các cơ quan nhà nước tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ.

Bộ TT&TT cũng đã lập một Hội đồng xem xét đánh giá và nhận thấy phần mềm OpenOffice đáp ứng tốt yêu cầu sử dụng trong hoạt động của cơ quan nhà nước, do vậy đã đưa vào danh mục phần mềm nguồn mở được ưu tiên sử dụng.

Hỏi về chính phủ điện tử: Có quan điểm cho rằng vẫn nên tiếp tục xây dựng chính phủ điện tử một cách phân tán. Ý kiến của Bộ về vấn đề này như thế nào? (Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở BCVT TP.HCM).

Để triển khai ứng dụng CNTT trên phạm vi toàn quốc, thường có hai cách tiếp cận chính, đó là cách tiếp cận theo mô hình tập trung và cách tiếp cận theo mô hình phi tập trung. Với mô hình tập trung, việc quản lý, triển khai được tập trung thống nhất ở cấp cao nhất - cấp trung ương. Mọi việc từ thiết kế ban đầu, xây dựng ứng dụng, triển khai ứng dụng, đánh giá kết quả, quản lý tài chính, quản lý kỹ thuật … đều do cấp trung ương quyết định.

Thực tế triển khai tin học hóa hành chính nhà nước trong giai đoạn vừa qua đã bộc lộ những điểm bất cập của mô hình tập trung khi áp dụng ở hoàn cảnh Việt Nam hiện nay. Với mô hình phi tập trung, việc quản lý, triển khai các đề án, dự án ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, do các cơ quan nhà nước chủ động thực hiện, tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng của mỗi cơ quan. Mô hình này có thể dẫn đến tình trạng hệ thống thông tin số của các cơ quan nhà nước không thống nhất, không đồng bộ, chồng chéo.

Để khắc phục những khó khăn của cả mô hình tập trung và phi tập trung, Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước từ nay đến 2010 được xây dựng theo mô hình kết hợp giữa hai mô hình trên, phù hợp với quy định của Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Theo mô hình này, Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước tạo cơ sở cho các tỉnh, thành, Bộ, cơ quan ngang Bộ xây dựng các Kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2008-2010 cho địa phương, ngành mình. Ưu điểm của mô hình này so với mô hình tập trung trong giai đoạn trước là việc nâng cao vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của các địa phương, đơn vị trong quá trình triển khai, làm tăng tính công khai, minh bạch, hiệu quả.

Về bản quyền phần mềm MicroSoft Office: Bộ BCVT mua bản quyền phần mềm này đã lâu nhưng chưa cung cấp cho các cơ quan nhà nước. Khi nào thì Bộ làm việc này? Đề lâu như vậy có lãng phí không? Bản quyền có thời hạn không, nếu có thì thời hạn là bao lâu? Tại sao không mua bản quyền Windows? Chạy MicroSoft Office có bản quyền trên Windows không có bản quyền có vi phạm không? (Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở BCVT TP.HCM).

Việc ký kết Hợp đồng thoả thuận mua bản quyền phần mềm của Microsoft đã được thực hiện trong năm 2007, nhưng thực tế hai bên vẫn đang hoàn thành các thủ tục đi đến ký kết hợp đồng cung cấp. Vì vậy, đến thời điểm này việc mua bản quyền phần mềm nói trên chưa được thực hiện. - Mua bản quyền và phân bổ bản quyền phần mềm (một sản phẩm có tính vô hình) cho toàn bộ các cơ quan nhà nước là lần đầu tiên tại Việt Nam nên cần có cơ chế đặc thù về việc quản lý và phân bổ tài sản. Điều này đã làm chậm kế hoạch triển khai.

Bộ đã làm việc với các bộ liên quan và báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án giải quyết (số lượng bản quyền được mua sẽ được xem như là tài sản công của Chính phủ Việt nam dưới quyền quản lý của Cục Quản lý công sản - Bộ Tài chính, quản lý như các tài sản chung khác. Các cơ quan nhà nước đều có quyền sử dụng tài sản vô hình này). Khi được Thủ tướng đồng ý với phương án đề xuất, Bộ sẽ tổ chức triển khai ngay. - Theo thông lệ của Công ty Microsoft áp dụng toàn cầu, với việc ký và thực hiện Thỏa thuận hợp đồng, Microsoft công nhận việc sử dụng phần mềm văn phòng của Microsoft với các phiên bản mới nhất là hợp pháp trong vòng 03 năm kể từ sau khi ký Thỏa thuận hợp đồng.

Từ nay tới năm 2010, nếu Microsoft có sản phẩm văn phòng mới hơn, các bản quyền sẽ tự động được nâng cấp. - Việc sử dụng Windows không có bản quyền là vi phạm. Tuy nhiên, thông thường bản quyền Hệ điều hành và các chương trình hệ thống được các công ty cung cấp máy tính đảm bảo khi bán máy tính. Do vậy, Bộ TT&TT không đặt vấn đề mua bản quyền Windows.

Kính gởi Thứ trưởng Bộ TT&TT, tôi có 2 vấn đề thắc mắc không được rõ lắm mong Thứ trưởng gải đáp giúp: _ Thứ nhất: Quy định "quản lý thuê bao di động trả trước" của Bộ Thông tin và Truyền Thông(TT&TT), trước hết tôi xin nói là đây là quy định hoàn toàn đúng đắn của Bộ TT&TT, tuy nhiên khi thực hiện đăng ký thì lại là chuyện khác. Trong các hình thức đăng ký thì có hình thức đăng ký bằng tin nhắn SMS qua tổng đài 1414 và đăng ký trên internet qua địa chỉ website của nhà cung cấp dịch vụ, người đã sử dụng chỉ cần khai báo: Họ tên, ngày tháng năm sinh, số chứng minh nhân dân (CMNN) là có thể tiếp tục sử dụng dịch vụ. Ở đây tôi không đề cập đến độ chính xác của những thông tin mà người sử dụng dịch vụ khai báo mà tôi đề cập đến một khía cạnh khác là những thông tin cần khai báo có thể tìm thấy dễ dàng trên mạng internet, trong các cơ quan nhà nước, các công ty, xí nghiệp (với hàng ngàn công nhân, viên chức) v.v... thì việc đăng ký thông tin ấy trở nên rất dễ dàng. Như vậy thì khi muốn tìm người đang sử dụng số máy di động đó thì ta phải tìm sao đây? Người đang đứng tên đăng ký hay là người đang sử dụng số di động đó mà người đang sử dụng số di động đó là ai mới người được chứ? Chẳng lẽ lại tìm người mà họ chẳng hề biết gì việc mình đã đứng tên đăng ký cho một số thuê bao à? Câu trả lời xin nhờ Thứ trưởng giải đáp giúp. Thứ hai là chương trình "kiểm tra chất lượng các mạng di động ở Việt Nam" do Cục Quản Lý Chất Lượng Bưu Chính Viễn Thông và Công Nghệ Thông Tin (PTQC- Nay thuộc Bộ Thông tin và truyền thông) tiến hành. Đây có thể nói là một việc rất đáng làm khi mà khách hàng không còn là thượng đế trong thời điểm này. Thế nhưng… Kết quả ban đầu cho thấy nhà cung cấp Mobifone chất lượng về nhiều tiêu chí, S-Fone chỉ xếp ¾ mạng được kiểm tra. Các báo đồng loạt ca ngợi mạng Mobifone nào là tốt, nào là số 1... Và "đùng" một cái… PTQC quay ngắt gần như 180 độ khi công bố lại mạng di động S-Fone thực chất mới có chất lượng tốt nhất chứ không phải Mobifone. Điều đáng nói ở đây là PTQC khi công bố lại kết quả thì có rất ít báo, đài đưa tin và có rất ít người biết được thông tin này. Và không biết PTQC có thông báo cho Mobifone biết không chứ cho tới nay tôi vẫn thấy nhiều băng rôn và trên trang web của Mobifone vẫn để quảng cáo Mobifone đứng đầu về chất lượng? (Thứ trưởng có thể xem tại http://www.mobifone.com.vn/web/vn/home/news.jsp?id=2505). Như vậy chẳng lẽ cứ để nó gây hiểu lầm cho mọi người à? Tôi không bênh vực ai cả nhưng chí ít nếu Bộ TT& TT công bố được thì cũng phải làm sao cho Mobifone rút lại những quảng cáo đó được chứ để như vậy thì không hay chút nào. Một số ý kiến cùng Thứ trưởng, rất mong nhận được câu trả lời thỏa đáng từ thứ trưởng. Chân thành cám ơn Thứ trưởng và MIC đã cho tôi có điều kiện nêu lên những thắc mắc của mình! (Nguyễn Thanh, Nam, Tân Phú, Quận 9, Tp.HCM)

Việc quản lý thuê bao di động trả trước theo QĐ 03/2007 của Bộ BCVT có thể tóm lược qua 2 phương thức. Một là tiền kiểm đối với các thuê bao mới bắt đầu hoạt động trên tất cả các mạng di động. Hai là hậu kiểm đối với tất cả các thuê bao đang hoạt động trên các mạng di động.

Đối với các thuê bao bắt đầu hoạt động, việc xuất trình chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu cho các đại lý hoặc chủ điểm giao dịch được DN di động ủy quyền là bắt buộc.

Đại lý hoặc chủ điểm giao dịch được ủy quyền chuyển các thông tin về thuê bao đã được đăng ký về DN bằng 2 phương thức: nhắn tin SMS hoặc cổng điện tử. Trách nhiệm đối với độ chính xác của thông tin thuê bao, tính bảo mật của thông tin thuê bao của cổng điện tử đã được quy định trong hợp đồng ủy quyền giữa DN và chủ đại lý hoặc chủ điểm giao dịch được ủy quyền.

Đối với các thuê bao đang hoạt động trên mạng, việc quản lý được thực hiện với phương thức SMS hoặc cổng điện tử của DN di động. Phương thức này độ chính xác của thông tin thuê bao đã được khai báo sẽ phụ thuộc vào tính trung thực của người sử dụng dịch vụ. Cơ quan nhà nước và DN di động sẽ tiến hành kiểm tra, đối chiếu với cơ sở dữ liệu về chứng minh thư nhân dân, hộ chiếu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý để xử lý những trường hợp khai báo không trung thực.

Hàng năm Cục Quản lý chất lượng CNTT có kiểm tra theo kế hoạch đột xuất chất lượng một số dịch vụ viễn thông trong đó có chất lượng dịch vị của số mạng di động. Việc kiểm tra này nhằm đánh giá trong thời điểm và thời gian cụ thể, chất lượng dịch vụ có phù hợp với tiêu chuẩn do Bộ Ban hành hay không. Việc này không nhằm xếp thứ tự chất lượng các mạng di động. Vì vậy, Cục không đánhg ía mạng nào tốt nhất, mạng nào xấu nhất và Cục không thể làm được điều đó mà chỉ tiến hành xử lý vi phạm hành chính khi một DN nào đó vi phạm chất lượng vì vậy, không có chuyện Cục đánh giá mạng Mobifone tốt nhất, sau đó lại đánh giá mạng S-fone tốt nhất.

Đề án 112 đã kết thúc. Nhưng hệ quả của nó hiện nay vẫn còn, hàng loạt dự án triển khai còn dang dở, chưa được nghiệm thu, quyết toán. Hàng loạt doanh nghiệp CNTT tham gia đề án này đến nay vẫn còn chưa được thanh toán. Theo thông tin trên báo chí trích nguồn tin từ Bộ tài chính thống kê còn hơn 2000 hợp đồng thuộc đề án 112 chưa được quyết toán. Xin Thứ trưởng cho biết định hướng xử lý những dự án CNTT trong khuôn khổ đề án 112 đang còn dang dở? (Nguyễn Phong Thanh, Kiên Giang).

Về việc xử lý các vấn đề còn tồn đọng của Đề án 112: - Tại Văn bản số 4294/VPCP-CN ngày 03/8/2007, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ TT&TT) chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Văn phòng Chính phủ chỉ đạo Ban Điều hành Đề án 112 của Chính phủ lập phương án, kế hoạch và thực hiện việc chuyển giao các kết quả của Đề án 112 theo các quy định hiện hành, cả về tổ chức, giải pháp công nghệ, sản phẩm phục vụ hình thành cơ sở pháp lý về tin học hóa quản lý hành chính nhà nước, sản phẩm CNTT. - Tháng 10/2007 Thủ tướng Chính phủ giao: + Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính rà soát lại các Đề án, chương trình đầu tư quốc gia để đảm bảo các dự án đầu tư phải được thẩm định kỹ, mục tiêu đầu tư phải được xác định cụ thể, sát thực, việc phân bổ vốn đầu tư và quản lý chi phí đầu tư phải chặt chẽ đúng quy định. + Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan, căn cứ kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước để xử lý các nội dung cụ thể. - Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, cuối tháng 12/2007 Bộ TT&TT đã nhận bàn giao nguyên trạng kết quả Đề án 112 từ Văn phòng Chính phủ. Hiện nay, Bộ đang tích cực xây dựng phương án và phối hợp với Bộ Tài chính, các Bộ có liên quan để giải quyết các vấn đề còn tồn động của Đề án 112.

Có những địa phương cấm phát triển các dịch vụ internet trong thời đại CNTT phát triển như hiện nay, liệu Thứ trưởng có biết không: Xã Diễn Xuân, Huyện Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An Quê hương của nguyên Bộ trưởng thương mại Trương Đình Tuyển (Nguyễn Thanh Can, Nam)

Việc sử dụng Internet là quyền của tất cả mọi người và Chính phủ luôn cố gắng thúc đẩy phát triển Internet để tất cả mọi người dân đều có thể sử dụng được dịch vụ này. Cảm ơn ông đã cung cấp thông tin. Chúng tôi sẽ giao Sở BCVT Nghệ An kiểm tra, tìm hiểu nguyên nhân và giải quyết.

Việc sử dụng phần mềm lậu hiện nay ở các cty, doanh nghiệp (đặc biệt là Windows và Office) diễn ra rất phổ biến. Vậy trong năm nay bộ TT&TT sẽ có các cách phạt (xử lý) các công ty này như thế nào? (Nguyễn Anh Tú, số 7 lô 12B - Trung Yên - Trung Hòa – HN)

Theo qui định của Luật sở hữu trí tuệ, Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học. Bộ TTTT sẽ phối hợp với Bộ VHTTDL xử phạt vi phạm theo qui định tại các văn bản hướng dẫn luật sở hữu trí tuệ và các văn bản QPPL hiện hành.

Người dân được nghe đến chính phủ điện tử từ lâu nhưng xin ông cho biết đến bao giờ người dân được sử dụng dịch vụ công qua mạng? những dịch vụ công nào sẽ được cung cấp qua mạng phổ biến đầu tiên? Lộ trình như thế nào? (Nguyễn Vân Kim, TP. HCM)

Các bạn đọc Trần Ngọc Cam (TP.HCM,) Hạ Hòa (Đà Nẵng), Văn Phong (Nha Trang) cũng có câu hỏi tương tự, nên tôi xin được trả lời chung như sau: Việc triển khai các dịch vụ công qua mạng cần căn cứ vào điều kiện và nhu cầu thực tế của từng ngành, địa phương. Một số dịch vụ hành chính công trực tuyến như: Đăng ký kinh doanh; Khai báo, đăng ký và thông quan; Kê khai thuế; Cấp phép thành lập văn phòng đại diện thương nhân nước ngoài sớm được triển khai cung cấp cho người dân và doanh nghiệp trong thời gian tới.

Xin chào Thứ Trưởng. Hiện nay đã có khá nhiều trang web ở VN đang hoạt động về lĩnh vực mua bán online. Nhưng vẫn chưa thấy Chính phủ soạn thảo một bộ luật Thương mại điện tử. Bộ có chủ trương gì để hỗ trợ các công ty, cá nhân kinh doanh về lĩnh vực thương mại điện tử? Chào thân ái. (Nguyễn Văn Bàng - Nam - P6, Hall II, Quang Trung Software City, Dist.12, HCM)

Để có thể triển khai áp dụng hiệu quả thương mại điện tử trong kinh doanh, mỗi nước đều có các bước chuẩn bị và phương án triển khai cụ thể phù hợp với trình độ phát triển và đặc thù của nước mình. Tuy vậy, do thương mại điện tử là một lĩnh vực mới mẻ, kể cả đối với các nước phát triển như Mỹ, Nhật, cho nên về cơ bản những vấn đề mà các nước đặt mức ưu tiên cao để giải quyết đều có nhiều điểm tương đồng, nhìn chung đều tập trung vào các vấn đề lớn như sau: Bảo mật/Mã hoá; Tính riêng tư: Bảo vệ các thông tin cá nhân; Bảo vệ người tiêu dùng; Vấn đề tài chính/Thuế; Bảo vệ sở hữu trí tuệ…

Liên quan đến pháp luật về Thương mại điện tử, hiện nay Việt Nam đã có Luật Giao dịch điện tử; Luật CNTT; Nghị định của Chính phủ về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Nghị định của Chính phủ về thương mại điện tử; Nghị định của Chính phủ về giao dịch điện tử trong lĩnh vực tài chính; Nghị định của Chính phủ về giao dịch điện tử trong lĩnh vực ngân hàng… Các Văn bản này cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu về hành lang pháp lý cho phát triển thương mại điện tử trong giai đoạn hiện nay. Bộ TT&TT sẽ phối hợp với các bộ, ngành liên quan để tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các văn bản khác nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý cho Thương mại điện tử.

Kính Gửi Thứ trưởng! Tôi kinh doanh đại lý Internet nhỏ,TTLT 02 và NĐ 60 qui định cách trường mẫu giáo >200m mới được kinh doanh trò chơi trực tuyến,những cháu học trường mẫu giáo <6 tuổi ăn phải đút,cha mẹ đưa đón,vào trường thì khóa cổng không cho ra ngoài và quan trọng hơn hết là không thể sử dụng máy vi tính.Vì điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến việc kinh doanh của tôi nói riêng và nhiều dịch vụ ở địa phương nói chung,mặt bằng có tại nhà rất thích hợp và đủ điều kiện kinh doanh nhưng vì <200m nên phải đi thuê mặt bằng không được tốt!Vì những điều nêu trên làm tôi và rất nhiều người gặp khó khăn. Kính mong Thứ trưởng xem xét giúp đỡ để việc kinh doanh của chúng tôi nói riêng và phát triển CNTT nói chung được thuận lợi? (Lê Trọng Thắng, Nam, TDP3,TT La Hà, huyện Tư Nghĩa)

Internet đã đóng góp rất quan trọng cho thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Chúng tôi đánh giá cao vai trò của đại lý xã hội trong việc phát triển Internet, tạo điều kiện cho người dân có điều kiện tiếp cận thông tin, kể cả những người có thu nhập thâp. Gần đây, với sự dễ dàng truy cập Internet, xã hội lên tiếng rất nhiều về một số tác động tiêu cực của Internet đối với học sinh, sinh viên như chuyện bỏ học chơi game… Vì vậy, cơ quan nhà nước phải siết chặt.

Thông tư 02 ra đời với một số quy định chặt về điều kiện kinh doanh và trách nhiệm của đại lý Internet. Quy định chị nêu đưa vào Thông tư dựa trên quy định của Bộ Văn hóa - Thông tin trong đó quy định đại lý Internet phải cách xa các trường học trên 200 m. Nội dung quy định nói về trường học nói chung, không nêu cụ thể trường mẫu giáo. Vừa qua, chúng tôi đã được phản ánh về bất cập này cũng như nhiều bất cập khác. Trong Nghị định thay thế Nghị định 55 vừa qua, Bộ đã xem xét các bất cập trong Thông tư 02, trình Chính phủ Nghị định mới thay thế để Chính phủ xem xét và sắp ban hành trong thời gian tới.

Theo thứ trưởng, việc triển khai các dự án CNTT trong các cơ quan nhà nước của Việt Nam vừa qua có thực sự xuất phát từ nhu cầu ứng dụng CNTT của đơn vị tiếp nhận dự án không? Chính phủ và Bộ TT-TT cần có giải pháp gì để "kích cầu" các cơ quan nhà nước ứng dụng CNTT. Theo ông, Chính phủ và Bộ TT-TT cần có những biện pháp cụ thể gì để những đề án CNTT cấp quốc gia đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của xã hội hiện nay? (Võ Đại Trung, Nam, TP Thanh Hoá)

Đúng là khá nhiều dự án ứng dụng CNTT được triển khai trong thời gian qua chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Để khắc phục tình trạng này, Bộ TT&TT đã đề xuất và được Chính phủ phê duyệt Nghị định 64 về ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước. Theo đó các bộ, ngành và địa phương dựa theo nhu cầu thực tế của ngành và địa phương mình để xây dựng kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm, và các đề án, dự án về ứng dụng CNTT, đồng thời người đứng đầu các cơ quan này phải chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư của các kế hoạch, đề án, dự án này. Như vậy, các bộ ngành và địa phương sẽ là các đơn vị trực tiếp đề xuất triển khai các dự án và sẽ sát với nhu cầu thực tế hơn. Để đẩy mạnh ƯD CNTT trong cơ quan nhà nước, trong Qui chế làm việc của Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các cơ quan nhà nước phải sử dụng thư điện tử trong công việc hàng ngày và thực hiện báo cáo trên môi trường mạng. Bộ TT&TT sẽ tổ chức theo dõi đánh giá thường xuyên, đôn đốc thực hiện qui định nêu trên của Chính phủ. Bộ cũng đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ƯD CNTT năm 2008 và đến năm 2010 trong đó xác định rõ một số dự án cấp quốc gia thực sự cấp thiết đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội.

Tôi cho rằng các chính sách liên quan đến bản quyền phần mềm có ảnh hưởng lớn tới việc phát triển CNTT nước nhà. Bảo vệ bản quyền chính là bảo vệ người sản xuất và người tiêu dùng, thúc đẩy sản xuất phát triển. Tuy nhiên chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn do chi phí mua bản quyền nước ngoài là chính. Xin ông cho biết những ý kiến về vấn đề này (Nguyễn Hồng Vinh, Hà Nội)

Tôi chia sẻ với những nhận định của bạn. Chúng ta đã tham gia hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, chúng ta phải tuân theo luật chơi chung của quốc tế. Chính phủ có chủ trương phát triển công nghiệp phần mềm thành một ngành công nghiệp mũi nhọn. Do giá mua bản quyền phần mềm thương mại là khá cao so với sự phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay, nên chúng ta cũng cần có các giải pháp, chiến lược dài hạn nhằm khuyến khích phát triển các phần mềm của mình, trong đó đặc biệt là khai thác sử dụng phần mềm mã nguồn mở nhằm tăng tính chủ động về công nghệ, giảm dần sự phụ thuộc vào phần mềm nguồn đóng.

Là thứ trưởng của Bộ Thông tin và Truyền thông, chắc ông cũng biết tương lai ngành CNTT của cả thế giới sẽ là những chiếc máy di động cỏn con nằm trong túi hàng tỷ người tiêu dùng, vậy ông và các vị lãnh đạo của đất nước VN ta đã có kế sách thiết thực gì để "đi tắt đón đầu", có thể đưa nền CNTT VN vào quỹ đạo của các nước sáng tạo ra sản phẩm di động thay vì như hiện nay là quốc gia chỉ biết tiêu dùng đồ ngoại? (Khanh Nguyen, Chuyên gia IT - Florida (USA)

Cùng câu hỏi của bạn Khanh Nguyen, bạn Văn Hoàng, Cần Thơ có câu hỏi tương tự về dự án xây dựng nhà máy ĐTDĐ Made in Việt Nam thất bại, và có cần phải có sản phẩm ĐTDĐ Made in Việt Nam hay không? Tôi xin trả lời chung như sau: Là người Việt Nam, tôi cũng rất mong muốn chúng ta sẽ có các sản phẩm CNTT, trong đó có máy điện thoại di động, “made in Vietnam”. Tôi cho rằng là một nước đi sau như chúng ta cần biết dựa vào công nghệ và sự đầu tư các các nước đi trước. Không chỉ riêng với điện thoại di động mà đối với các sản phẩm CNTT, điện tử nói chung, muốn thành công chúng ta cần học hỏi cũng như sự đầu tư trực tiếp của các tập đoàn ICT nước ngoài. Hiện nay có nhiều tập đoàn đa quốc gia đang xem xét triển khai các dự án lớn về sản xuất điện tử tại Việt Nam, trong đó các dự án sản xuất điện thoại di động của Foxconn, Samsung với vốn đầu tư lên đến hàng tỷ đô la. Do vậy việc sắp tới có các điện thoại di động “made in Vietnam” là điều hoàn toàn có thể. Bộ TT&TT cũng đang nghiên cứu, xây dựng các cơ chế chính sách nhằm tăng hàm lượng chất xám của người Việt trong các sản phẩm điện thoại di động “made in Vietnam” này.

Nền công nghiệp ICT của nước ta, trong thời gian qua còn mang nặng tính lắp ráp hoàn thiện sản phẩm, giá trị tăng thêm cho hàng hoá chưa cao. Từ đó có nhiều đề xuất cần phải định hướng xây dựng nền công nghiệp ICT bắt đầu từ việc sản xuất vật liệu, linh kiện, chip... Nhưng cũng nhiều có ý kiến khác lập luận rằng với nền kinh tế toàn cầu, có phân công khu vực chuyên môn; vì vậy nên xây dựng nền công nghiệp ICT theo định hướng thiết kế mẫu mã, gia tăng giá trị sản phẩm gốc OEM bằng các phần mềm nhúng đặc sắc, xây dựng thương hiệu.. Ý kiến của Thứ trưởng về vấn đề này như thế nào? (Độc giả Phạm Thiện Nghệ, Tổng Thư ký Hội Tin học TP. HCM)

Tôi cho rằng trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay, Công nghiệp ICT mang nặng tính phân công quốc tế, trong đó mỗi quốc gia muốn phát triển được phải tham gia được vào hệ thống sản xuất toàn cầu này. Một trong những giải pháp là chúng ta phải thu hút mạnh mẽ hơn đầu tư của các tập đoàn ICT lớn vào Việt Nam. Thông qua các dự án đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia, chúng ta sẽ từng bước tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp phụ trợ, chuyên nghiệp hóa nguồn nhân lực, để có thể tham gia mạnh mẽ hơn vào thị trường toàn cầu. Sự đầu tư của các tập đoàn lớn sẽ kéo theo nhiều doanh nghiệp cung cấp linh kiện, vật liệu đầu tư vào Việt nam, và cũng là cơ hội để các doanh nghiệp ICT trong nước phát triển. Thực tế nhiều nước như Trung quốc, Ấn Độ, Ailen đã thành công nhờ chiến lược này. Việt nam hiện nay cũng đang được đánh giá là một điểm đầu tư hấp dẫn về ICT, nhiều tập đoàn lớn như Intel, IBM, Canon, Fujisu, Foxcon, Samsung đã có các dự án lớn đầu tư vào Việt Nam. Tôi cho rằng đây là một cơ hội lớn, và các doanh nghiệp ICT trong nước cũng cần nỗ lực hơn, mạnh dạn đầu tư phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển thị trường. Với các tiềm năng và cơ hội đang có, tôi tin tưởng ngành công nghiệp ICT Việt Nam sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới.

Lâu nay, nhiều dư luận phản ánh vấn đề nhân lực CNTT thiếu, yếu. Là bộ chủ quản về CNTT, Thứ trưởng đánh giá thế nào về tình trạng nhân lực CNTT Việt Nam hiện nay. Bộ TT-TT đã có kế hoạch gì để cải thiện vấn đề này (Giang Mạnh, Hà Nội - Freenews4it@)

Trong hơn 5 năm qua, chúng ta đã rất nỗ lực để phát triển nguồn nhân lực CNTT. Từ con số chỉ vài chục trường đại học đào tạo CNTT trước năm 2000, đến nay hầu hết các trường đại học, cao đẳng lớn trên cả nước đều đã có chuyên ngành đào tạo về CNTT. Rất nhiều trung tâm, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đào tạo CNTT đã ra đời và đóng góp khá lớn cho việc phát triển nguồn nhân lực CNTT Việt Nam. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận thực tế là nguồn nhân lực CNTT của chúng ta còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng.

Để phát triển ngành CNCNTT như mục tiêu đề ra, tôi cho rằng chúng ta phải có một đội ngũ nhân lực CNTT đông đảo nhiều trăm ngàn người chứ không chỉ dăm chục ngàn như hiện nay. Ấn Độ hiện đã có trên 1,5 triệu nhân lực CNTT, Trung quốc có trên 1 triệu người, so với họ thì đội ngũ nhân lực CNTT của chúng ta quá nhỏ bé. Nhận thức được điều này, Bộ TT&TT đã phối hợp chặt chẽ với Bộ GD-ĐT xây dựng các cơ chế, chính sách đào tạo và phát triển nhân lực CNTT. Hiện nay hai Bộ đang phối hợp để xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2010, tầm nhìn đến 2015. Chúng tôi cũng đang xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù trong đào tạo nhân lực CNTT, dự kiến sẽ trình Thủ tướng trong quý II năm nay. Nếu các chính sách này được phê duyệt, chắc chắn sẽ thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực CNTT mạnh mẽ trong thời gian tới.

Tôi thấy Việt Nam ta nói nhiều đến tiềm năng của ngành phần mềm Việt Nam. Nhưng ngay cả so với các nước trong khu vực thì thực tế Việt Nam vẫn thua kém. Tôi có thể dẫn chứng rằng mới đây, công ty phần mềm Infosys của Ấn Độ đã mở rộng gia công ở Malaysia nhưng ở Việt Nam, chẳng thu hút được công ty phần mềm Ấn Độ nào đầu tư. Ông nghĩ về điều này như thế nào? (Một độc giả ở Đà Nẵng)

Sự phát triển Công nghiệp phần mềm Việt Nam chưa được như chúng ta mong muốn và bị đánh giá là còn quá thấp so với tiềm năng. Mặc dù Nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển ngành kinh tế quan trong này nhưng chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế. Trong thời gian tới chúng ta cần nỗ lực nhiều hơn nữa để phát triển ngành công nghiệp này thông qua các giải pháp như phát triển nguồn nhân lực, thu hút đầu tư, hoàn thiện môi trường pháp lý, làm thông thoáng môi trường kinh doanh v.v.

Thực tế hiện nay nhiều tập đoàn CNTT lớn của nhiều quốc gia như Mỹ, Nhật đang đầu tư làm phần mềm tại Việt Nam. Chắc chắn thời gian tới sẽ có thêm nhiều nhà đầu tư khác (bao gồm cả các nhà đầu tư Ấn Độ) tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực này tại Việt Nam và giúp ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam khởi sắc.

Có vẻ như ngành công nghiệp điện tử Việt Nam đang bị bỏ rơi, phải không Thứ trưởng? Vì tôi thấy quy hoạch, chiến lược chẳng đi vào thực tế, trên thị trường trong nước thì hàng nội bị đè bẹp (Phạm Huy Vũ, Hà Nội)

Theo tôi Ngành công nghiệp điện tử không hề “bị bỏ rơi” như bạn nghĩ. Đảng, Nhà nước và Chính phủ coi đây là một trong những ngành công nghiệp chủ đạo có tiềm năng phát triển rất lớn, có vị trí then chốt trong nền kinh tế hiện đại và có tác động mạnh mẽ đến các ngành công nghiệp khác. Trong các Nghị quyết Đại hội VIII cũng như Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đều đã ghi rõ nhiệm vụ ưu tiên phát triển ngành CNpĐT thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân để thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Mới ngay hôm qua, 28/2/2008, Bộ TT-TT đã cùng phối hợp với Đại sứ quán Pháp tổ chức Diễn đàn Phát triển Công nghiệp (CN) điện tử Việt Nam, với sự tham gia của Tập đoàn STMicroelectronics. Dù Chính phủ rất nhiều công việc, nhưng Thủ tướng Chính phủ vẫn rất quan tâm tới ngành Công nghiệp điện tử của Việt Nam và chỉ đạo Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tham dự Diễn đàn này. Gần đây nhất, vào tháng 5/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 75/2007/QĐ-BBCVT phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp điện tử VN đến 2010 và tầm nhìn 2020. Bản Kế hoạch này đã đề ra nhiều mục tiêu, giải pháp, biện pháp, đề án, dự án cụ thể nhằm đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp này, để các sản phẩm điện tử Việt nam không những có thể khẳng định vị trí trên thị trường trong nước mà còn tiến tới xuất khẩu. Hiện nay Bộ TT&TT đang khẩn trương triển khai các nội dung của Kế hoạch này, trong đó có Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành công nghiệp điện tử.

Liệu Việt Nam có thể làm nên một Silicon Valley không? Theo ông, cần phải có những yếu tố gì mới đạt được điều đó và Việt Nam còn thiếu những yếu tố gì? Nguyễn Minh Tiến, Đại học Đà Lạt

Ý tưởng hình thành một Silicon Valley có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp CNTT ở Việt Nam. Thực tiễn trong những năm qua chúng ta đã hình thành một số khu CNTT tập trung, điển hình như Công viên phần mềm Quang Trung. Bộ TT&TT dự kiến sẽ phối hợp với UBND tp. HCM tổng kết đánh giá mô hình này để phát triển các khu CNTT tập trung quy mô lớn hơn nhằm hướng tới một Silicon Valley ở Việt Nam.

Hiện tại ở những vùng khó khăn, mặt bằng về trình độ tin học của cán bộ còn thấp, hầu hết các cơ quan đều có cán bộ chuyên tin học nhưng chưa tận dụng hết khả năng (ví dụ bố trí việc văn phòng, phụ trách thống kê…). Mong rằng Bộ Thông tin và Truyền thông có chính sách sử dụng nhân lực tại chỗ bồi dưỡng CNTT cho cán bộ về xây dựng và sử dụng những phần mềm từ đơn giản đến phức tạp để nâng dần trình độ tin học của cán bộ đồng thời cán bộ CNTT cũng sử dụng những gì mình đã mài công học tập, cũng là động lực để nâng dần trình độ của chính mình (Nhóm cán bộ CNTT ở Kon Tum)

Tôi cho rằng đề xuất của các bạn là hợp lý. Tôi sẽ yêu cầu các đơn vị chức năng của Bộ nghiên cứu đề xuất của các bạn để các địa phương sử dụng tối đa và hiệu quả nhất nguồn nhân lực CNTT tại chỗ.

Tôi là người làm trong lĩnh vực CNTT. Nhiều lúc cần tìm hiểu các số liệu thống kê về CNTT của Việt Nam, nhưng không tìm đâu thấy ngoài số liệu của các tổ chức nước ngoài như IDC hay GfK. Xin Thứ trưởng cho biết vì sao đến nay chúng ta vẫn chưa có thống kê về CNTT? Bộ TT-TT đã bao giờ phải mua số liệu thống kê về CNTT của Việt Nam phục vụ cho việc xây dựng chính sách CNTT? (Nguyễn Minh Tiến, Hà Tây, tienthds@)

Đúng là hiện nay chúng ta đang thiếu các số liệu thống kê đầy đủ về CNTT Việt Nam. Bộ TT&TT cũng đã triển khai nhiều biện pháp để thu thập, xây dựng hệ thống số liệu thống kê về lĩnh vực này. Tuy nhiên, do đặc thù CNTT là một ngành mới phát triển, khá phân tán, số lượng doanh nghiệp, tổ chức CNTT nhiều nhưng chủ yếu có quy mô nhỏ, gây khó khăn cho việc thu thập số liệu. Ngoài các số liệu chính thức, Bộ có tham khảo thêm các nguồn số liệu của các tổ chức, hiệp hội CNTT trong và ngoài nước để phục vụ cho việc xây dựng cơ chế chính sách về CNTT.

Thưa chú Thứ trưởng, cháu là một sinh viên đại học ngành CNTT. Theo chú khi ra trường, cháu nên xin vào một cơ quan nhà nước không? như Bộ hay các sở chẳng hạn (Thanh Hải - Đại học Quốc gia Hà Nội)

Việc lựa chọn nơi làm việc sau khi tốt nghiệp đại học là rất quan trọng. Theo chú thì cháu nên căn cứ vào năng lực, sở thích và mong muốn của mình để lựa chọn nơi làm việc phù hợp. Trong cơ quan nhà nước hay trong các doanh nghiệp, mỗi nơi đều có những thuận lợi và khó khăn khác nhau, cháu cần tìm hiểu kỹ, cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định. Bộ TT&TT luôn sẵn sàng đón nhận những cử nhân, kỹ sư CNTT giỏi vào làm việc. Chúc cháu chọn được nơi làm việc như mong muốn để phát huy tốt nhất khả năng của mình.

Thứ trưởng là người ủng hộ nguồn mở hay Microsoft ạ? Ama Bảo, Đà Lạt

Hiện nay Bộ TT&TT đang một mặt đàm phán mua bản quyền phần mềm Microsoft Office cho các cơ quan nhà nước, mặt khác đẩy mạnh việc ứng dụng phần mềm mã nguồn mở OpenOffice để tăng tính tự chủ, giảm chi phí mua bản quyền. Là Thứ trưởng phụ trách về CNTT, tôi đang chỉ đạo thực hiện cả hai nội dung quan trọng này. Trong máy tính cá nhân của tôi cũng có cả Microsoft Office và Open Office, cả trình duyệt Internet Explorer và FireFox. Tôi thấy việc sử dụng OpenOffice và Firefox đều khá dễ dàng không kém gì so với việc sử dụng Microsoft Office và trình duyệt Firefox. Tôi cho rằng phần mềm mã nguồn mở là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam.

Kính thưa thứ truởng, thời gian vừa qua hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan quản lý nhà nuớc nói chung chưa đạt đuợc kết quả mong muốn, nguyên nhân thì có nhiều trong đó có một nguyên nhân là thiếu cơ chế chính sách như định mức phần mềm để xây dựng dự toán, điều này dẫn đến hệ quả là gây khó khăn cho chủ đầu tư trong việc quyết định đầu tư lamg chậm tiến độ triển khai dự án... Xin Thứ truởng cho biết việc triển khai xây dựng định mức phần mềm đã triển khai như như thế nào? và dự kiến đến bao giờ thì hoàn thiện (Vũ Thanh Bình - Nam 30 tuổi - Thanh trì, Hà Nội)

Định mức xây dựng cần được xây dựng phù hợp với một quy trình quản lý đầu tư thích hợp, và có những tính chất đặc thù riêng cho dự án ứng dụng CNTT. Những vấn đề này đã được phản ánh trong dự thảo Nghị định quản lý đầu tư dự án ứng dụng CNTT sử dụng vốn nhà nước. Ví dụ như Quy trình quản lý đầu tư dự án ứng dụng CNTT yêu cầu dự án phải thực hiện việc lập kế hoạch, phân tích, thiết kế, lập trình, kiểm thử, chuyển giao. Trong đó áp dụng các phương pháp định giá phần mềm mà quốc tế thường sử dụng như phương pháp định giá phần mềm Phân tích điểm chức năng, phương pháp định giá phần mềm Phân tích trường hợp sử dụng. Bộ TT&TT đã có kế hoạch xây dựng định mức phần mềm và nếu mọi việc suôn sẻ, Bộ dự kiến sẽ ban hành vào giữa năm 2008.

Thưa Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng, việc quản lý Nhà nước trong lĩnh vực Công nghệ thông tin tại các Sở Bưu chính, Viễn thông hiện nay đang cần có một lực lượng giỏi về trình độ chuyên môn bởi vì lĩnh vực CNTT hiện nay đang rất phát triển. Do đó, nếu ko có lực lượng giỏi chuyên trách về lĩnh vực này thì chúng ta sẽ rất khó có thể thực hiện quản lý tốt. Trong khi đó, thu nhập của cán bộ, công chức quản lý NN về CNTT lại rất thấp so với các kỹ sư CNTT-TT đang làm cho các doanh nghiệp. Vì vậy, việc thu hút nhân tài sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Xin hỏi Thứ trưởng: 1. Bộ đã có cơ chế, chính sách khuyến khích các kỹ sư CNTT nói riêng và kỹ sư CNTT-TT nói chung như thế nào để thu hút nhân tài làm việc tại các Sở Bưu chính, Viễn thông?. 2. Bộ đã có chương trình, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cho các kỹ sư CNTT - TT công tác tại các Sở Bưu chính, Viễn thông hay chưa? Theo tôi, ban đầu Bộ có thể áp dụng thi tuyển đầu vào để chọn lọc và bồi dưỡng cho các kỹ sư CNTT – TT đang làm việc tại các Sở Bưu chính, Viễn thông lên trình độ cao hơn, phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp CNTT – TT.. Kính mong được Thứ trưởng trả lời câu hỏi này. Kính chúc Thứ trưởng sức khỏe và thành công. Xin trân trọng cảm ơn! (Dương Chí Dũng, Sở Bưu chính, Viễn thông Thanh Hóa)

Tôi sẽ nghiên cứu kỹ đề xuất của bạn. Đúng là các Sở BCVT cần một lực lượng giỏi về CNTT để hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Bộ TT&TT đang nghiên cứu, đề xuất cơ chế thu nhập đặc thù cho cán bộ chuyên trách về CNTT để giữ và thu hút người giỏi làm việc trong các cơ quan nhà nước. Trong kế hoạch năm 2008, Bộ TT&TT cũng sẽ có các khoá đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ cho các cán bộ công chức của các Sở, trong đó có cán bộ CNTT&TT. Hy vọng bạn cũng có thể tham gia các khoá học này do Bộ TT-TT tổ chức.

Để triển khai ứng dụng CNTT trong các cơ quan Nhà nước theo NĐ 64 cần có Chuyên viên tin học tại các Sở, huyện. Vấn đề nhân sự CNTT trong các cơ quan Nhà nước đã được Bộ Nội vụ triển khai từ năm 2002, nhưng đến nay vẫn chưa có thang, bậc, ngạch lương, phụ cấp cho những người làm CNTT, vì vậy dẫn đến thiếu hụt trầm trọng nhân lực làm CNTT trong khối công quyền. Bộ TTTT đã xúc tiến làm việc với Bộ Nội vụ về việc này chưa và nếu có thì bao giờ áp dụng? (Trần Văn Hậu, Tam Kỳ)

Bộ TT&TT đang tích cực làm việc với Bộ Nội vụ để giải quyết vấn đề này. Đây cũng là một vấn đề rất phức tạp, vì nguồn nhân lực CNTT là một trong những nguồn nhân lực đặc thù, cần những yêu cầu riêng biệt. - Có nhiều "nút thắt" liên quan đến ứng dụng và phát triển CNTT-TT. Tuy nhiên, theo tôi một "nút thắt" rất lớn cần phải tháo gỡ ngay là vai trò của lãnh đạo đối với ứng dụng và phát triển CNTT-TT chưa rõ ràng, chưa sáng tỏ, chưa quyết liệt... Thứ trưởng có đồng ý với quan điểm đó không và nếu có thì giải pháp khả thi để giải quyết? (Nguyễn Ích Tín, Vĩnh Phúc)

Tôi cũng rất đồng ý với quan điểm cho rằng người lãnh đạo có vai trò rất quan trọng đối với ứng dụng CNTT. Bộ TT&TT đã nhận thức được vấn đề này và đã đề xuất với Chính phủ ban hành Nghị định 64/2007/NĐ-CP trong đó xác định rất rõ vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu về triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Bộ sẽ theo dõi, đôn đốc tổ chức thực hiện tốt Nghị định 64/2007/NĐ-CP. Hy vọng rằng “nút thắt” mà bạn nêu này sẽ nhanh chóng được tháo gỡ.

Nhà nước có chính sách gì để khuyến khích các doanh nghiệp phần mềm vừa và nhỏ phát triển? (Võ Đại Trung, TP Thanh Hoá)

Thực tế, hiện nay Nhà nước đã có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung, trong đó có các doanh nghiệp phần mềm. Bên cạnh đó các doanh nghiệp phần mềm còn được hưởng nhiều ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng. Các doanh nghiệp phần mềm nằm trong các khu CNTT tập trung còn được hưởng ưu đãi về thuế đất, kết nối Internet, quyền sử dụng đất...

Câu hỏi về chức năng cung cấp thông tin cho lãnh đạo và công chúng của cơ quan cấp tỉnh ? Điều 8 của Nghị định 13/NĐ-CP ngày 04/02/2008 (Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) có nêu: 10. b) Sở Thông tin và Truyền thông tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn phát sóng; tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền hình; cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông; quảng cáo trên các phương tiện báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm. 17. b) Văn phòng Ủy ban nhân dân có chức năng tham mưu tổng hợp, giúp Ủy ban nhân dân tổ chức các hoạt động chung của Ủy ban nhân dân; tham mưu, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân về chỉ đạo điều hành các hoạt động chung của bộ máy hành chính ở địa phương; bảo đảm cung cấp thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân và thông tin cho công chúng theo quy định của pháp luật; bảo đảm các điều kiện vật chất kỹ thuật cho hoạt động của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Trong khi Điều 46 của Nghị định 64/NĐ-CP ngày 10/4/2007 (về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước) ghi chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin địa phương (sở Thông tin Truyền thông) là: Thu thập, lưu trữ, xử lý thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo; và Xây dựng và duy trì hoạt động trang thông tin điện tử của ngành hoặc địa phương. Xin hỏi: 1- Chức năng cung cấp thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân và thông tin cho công chúng theo quy định của pháp luật: Các tỉnh, TP sẽ thực hiện theo Nghị định 64 hay Nghị định 13?- Và chức năng duy trì hoạt động trang thông tin điện tử của địa phương (cấp tỉnh và TP trực thuộc TW) là do sở Thông tin Truyền thông hay Văn phòng UBND tỉnh thực hiện? Nếu cả hai đều thực hiện theo Nghị định 13 thì Bộ TTTT cần đề xuất Chính phủ thực hiện Điều 14 Nghị định 13/NĐ-CP ngay để tránh chồng chéo (Bãi bỏ các quy định trước đây trái với Nghị định 13 này). (Dương Quốc Hùng, 82 Tôn Đức Thắng, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang)

Xin cám ơn bạn đã nghiên cứu kỹ và phân tích sâu về vấn đề này. Bộ TT&TT sẽ lưu ý vấn đề này và trao đổi với Bộ Nội vụ trong quá trình xây dựng văn bản hướng dẫn chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Sở TT&TT trong thời gian tới. Hy vọng những văn bản hướng dẫn mới sẽ giải đáp được những vấn đề bạn thắc mắc.

Việc thực hiện Nghị định 64/2007/NĐ-CP tại Vĩnh Long, Sở BCVT rất khó thực hiện vì còn vướng mắc với Ban điều hành 112 (VP.UBND tỉnh). Việc này Bộ TT&TT có ý kiến chỉ đạo gì? và khi nào? (tại Hội nghị tổng kết ngành các tỉnh cũng có nhiều ý kiến về vấn đề này) (Nguyễn Tấn Dương - Nam - Sở Bưu chính Viễn thông Vĩnh Long)

Đây là vấn đề cần phải giải quyết. Bộ TT&TT đã dự thảo hướng dẫn về việc tiếp nhận và sử dụng kết quả Đề án 112 tại các địa phương để gửi xin ý kiến UBND các tỉnh, thành phố. Dự kiến sau khi tiếp thu ý kiến của UBND các tỉnh, thành phố, Bộ TT&TT sẽ có văn bản chính thức về vấn đề này.

Nhiều người quan tâm đến vấn đề phần mềm miễn phí và nguồn mở cho IT Việt Nam. Ý kiến ủng hộ nhiều nhưng lo ngại cũng không ít. Trong đó đa số lo ngại vì hầu hết mọi người không quen sử dụng những phần mềm trên, mà HĐH Linux là một điển hình. Theo dõi một số tạp chí IT, tôi được biết chính phủ có chủ trương khuyến khích mọi người sử dụng phần mềm nguồn mở (nhưng không nói có miễn phí hay không). Tuy nhiên, có vấn đề tôi thắc mắc (có lẽ là nguyên nhân chính khiến cho chủ trương này khó thực hiện) là tại sao trong các nội dung đào tạo IT hiện nay, đặc biệt ở mức phổ thông (bằng A) đều chỉ dạy các ứng dụng mã đóng (và có phí bản quyền) ? Phải chăng chúng ta đang tự đem dây buộc mình ? Ai sẽ dùng một công cụ khác nếu họ không biết cách sử dụng? (NTH, TP HCM)

Tôi cũng đồng ý với bạn Nam rằng đúng là khó khăn nhất trong việc ứng dụng phần mềm nguồn mở (PMNM) là do người dùng chưa quen. Bộ TT&TT đã có văn bản gửi Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ đề nghị nghiên cứu chỉnh sửa chương trình, giáo trình đào tạo tin học văn phòng theo các phần mềm ứng dụng mã nguồn mở, cụ thể là Open Office, đặc biệt là các phần mềm nằm trong danh mục PMNM được ưu tiên sử dụng trong các cơ quan nhà nước. Hi vọng Bộ GD-ĐTDĐ sẽ sớm chỉnh sửa các giáo trình để giảng dạy về phần mềm nguồn mở, và người dùng sẽ sớm quen với việc sử dụng phần mềm nguồn mở.

Thưa Thứ trưởng, có ý kiến cho rằng, năm 2007, ngành CNTT rơi vào khủng hoảng với các chương trình 112 thất bại, nhiều công ty đóng cửa, không xuât hiện công ty mới, thiếu nhân lực và đào tạo không đạt yêu cầu...Bộ TT-TT có những giải pháp gì cho tình hình này không? (Tran Nguyen Viet Anh, Trung Tu, Ha Noi)

Tôi không nghĩ là ngành CNTT Việt Nam đang rơi vào khủng hoảng, tuy nhiên đúng là năm 2007 ngành CNTT gặp nhiều khó khăn như bạn đã nêu. Bộ TT&TT đã xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước năm 2008 đến năm 2010, trong đó có nhiều dự án CNTT quan trọng. Bên cạnh đó Bộ cũng đang tích cực triển khai các Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm, công nghiệp nội dung số, kế hoạch phát triển công nghiệp điện tử đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hi vọng rằng, việc triển khai các kế hoạch, chương trình này sẽ đem lại những khởi sắc mới cho ngành CNTT Việt Nam trong thời gian tới.

Xin hỏi Thứ trưởng: hiện nay theo khung chương trình đào tạo chứng chỉ A tin học do Bộ GDĐT qui định thì trong đó có phần đào tạo phần mềm MS Offices, vậy khi đào tạo thay thế phần mềm MS Offices này bằng phần mềm mã nguồn mở Open office thì có được cấp chứng chỉ không? (Nguyễn Hữu Thanh Bình, Cần Thơ)

Trường hợp của bạn Bình cũng tương tự như câu hỏi của bạn Nam ở TP.HCM mà tôi đã trả lời ở trên. Về vấn đề này, Bộ TT&TT đã có văn bản gửi Bộ GD&ĐT đề nghị nghiên cứu chỉnh sửa chương trình, giáo trình và cấp chứng chỉ đào tạo tin học văn phòng theo các phần mềm OpenOffice. Tôi tin rằng Bộ GD&ĐT sẽ sớm có quy định cụ thể về vấn đề này.

Tôi có nghe một số thông tin nói rằng, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định sáp nhập Viettel vào với VNPT. Nếu như có sự sáp nhập như thế thì liệu có còn sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà khoảng vài năm gần đây, Viettel và VNPT vẫn đang cạnh tranh để thu hút khách hàng. Xin Thứ trưởng cho biết thêm về thông tin này, và nếu có, xin Thứ trưởng cho biết khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sau này như thế nào? (Trần Bảo Anh, 18 tuổi, Phú Yên)

Tôi khẳng định không có chuyện đó.

Công ty Viễn thông Điện lực có cổ phần hoá không? Thời gian vào khi nào? (Cao Minh Hoàng, 30 tuổi, Quảng Bình)

Xin cám ơn câu hỏi của bạn. Cổ phần hóa là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm nâng cao năng lực của các doanh nghiệp Nhà nước, tạo chủ động cho các doanh nghiệp trong các hoạt động sản xuất kinh doanh và hội nhập kinh tế, quốc tế.

Đối với câu hỏi của bạn, do Cty Viễn thông Điện lực là một đơn vị thành viên của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, theo tôi được biết, hiện Tập đoàn Điện lực đang có kế hoạch đổi mới mô hình tổ chức sản xuất của cả tập đoàn trong đó có Cty Viễn thông điện lực. Việc có đề xuất cổ phần hóa hay không là thuộc thẩm quyền của Tập đoàn Điện lực. Nếu có đề xuất về việc này thì chúng tôi cũng rất ủng hộ.

Xin hỏi thứ trường Nguyễn Minh Hồng về chính sách phát triển Chính PHủ Điện tử tại Việt Nam trong những năm sắp tới. Hiện nay Bộ TT-TT đã có một đơn vị trực tiếp nghiên cứu và đưa ra các chính sách về phát triển Chính phủ điện tử chưa?(Le Đình VIệt, 25 tuổi, Hà Nội)

Việc xây dựng chính phủ điện tử là mục tiêu cao của Đảng, Nhà nước, được thể hiện qua các văn bản như Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị, Nghị định 64 của Chính phủ, Chiến lược phát triển CNTT và truyền thông của Thủ tướng Chính phủ. Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, việc này là một quá tình lâu dài, cần thực hiện qua nhiều giai đoạn, và cần được triển khai đồng bộ với quá trình cải cách hành chính với sự tham gia tích cực của các Bộ, ngành, địa phương. Bộ TT-TT đã xác định đây là nhiệm vụ quan trọng, phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng kế hoạch, chính sách phát triển Chính phủ điện tử Việt Nam. Trong giai đoạn trước mắt, Bộ tập trung xây dựng ứng dụng trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Các đơn vị chức năng của Bộ đều có chức năng xây dựng chính sách phát triển chính phủ điện tử VN, trong đó Vụ CNTT là đơn vị chính về xay dựng cơ chế chính sách, cục Ứng dụng CNTT là đơn vị chính triển khai thực hiện.

Thưa Thứ trưởng, mã nguồn mở hiện có thể nói là một xu thế đang diễn ra mạnh mẽ ở trên thế giới. Với vai trò là cơ quan chủ quản, bộ TTTT đánh giá thế nào về tầm quan trọng và tương lai phát triển ở Việt Nam. Và xin hỏi thứ trưởng thêm là chúng ta đã có dự định, chiến lược nào cho mã nguồn mở ở Việt Nam chưa hay mới chỉ là các giải pháp thăm dò? Cảm ơn thứ trưởng! (Nguyễn Văn Thành, 22 tuổi, Hà Nội)

Tôi cho rằng phần mềm nguồn mở sẽ có vai trò rất quan trọng đối với ngành CNTT Việt Nam. Thực tế Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 235/2004/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở giai đoạn 2004-2008. Bộ TT&TT cũng đã ban hành danh mục các phần mềm nguồn mở được ưu tiên sử dụng trong các cơ quan nhà nước, và đang nghiên cứu xây dựng để trình Thủ tướng chính phủ các cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển phần mềm nguồn mở, dự kiến sẽ trình Thủ tướng vào Quý III năm nay. Tuy nhiên khó khăn lớn nhất đối với ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở chính là thói quen, và Bộ TT&TT đang chuẩn bị để tổ chức triển khai đào tạo hướng dẫn sử dụng, nâng cao nhận thức, tạo thói quen cho người dùng. Như vậy có thể nói phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt Nam là hoàn toàn theo kế hoạch, chứ không chỉ là giải pháp thăm dò.

Việc triễn khai thực hiện NĐ64/cp có một phần nguồn vốn của địa phuơng , phần TƯ bao giờ ghi vốn để các địa phuơng thực hiện. Xin Thứ truởng vui lòng cho biết (Nguyễn Anh Cả, 58 tuổi, TP Tam Kỳ, Quảng Nam)

Trong dự thảo Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008, Bộ TT&TT đã đề xuất sử dụng ngân sách TW để hỗ trợ các địa phương triển khai một số nhiệm vụ bao gồm: nâng cấp hoàn thiện cổng thông tin điện tử, nâng cấp hoàn thiện hệ thống e-mail, triển khai hệ thống giao ban trực tuyến, triển khai hệ thống quản lý văn bản và điều hành điện tử. Dự kiến Kế hoạch này sẽ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong tháng 3/2008. Sau khi Kế hoạch được phê duyệt, phần vốn NSTW hỗ trợ các địa phương sẽ được xác định rõ.

Kính thưa Thứ trưởng! Ngày 6/7/2007, Bộ BCVT (này là Bộ TT$TT) có Công văn số 1448/BBCVT-KHTC về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Công văn số 1500/BBCVT-KHTC ngày /7/2007 của Bộ Bưu chính, Viễn thông về việc xây dựng kế hoạch chi NSNN cho sự nghiệp ứng dụng và phát triển Công nghệ thông tin năm 2008 gửi các tỉnh để triển khai xây dựng gửi bộ TT&TT có ý kiến để UBND tỉnh phế duyệt. Tuy nhiên tại thời điểm xây dựng kế hoạch việc xác định nguồn kinh phí chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý cụ thể để khai toán đầu tư cũng như xác định nguồn kinh phí thực hiện. Nên hầu như các tỉnh chưa được phê duyệt các kế hoạch nói trên.. Nay có Thông báo số 05/TB-VPCP ngày 10/01/2008 của VPCP về kết luận của phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại cuộc họp ngày 28 thaán 12 năm 2007 về đề án chương trình ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2007-2010. Có kế hoạch sử dụng 200 tỷ cho công tác ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước năm 2008, và Bộ xây dựng kế hoạch năm 2009-2010.. Vậy, quan điểm, chủ trương của Bộ về việc phân bổ Ngân sách 200 tỷ năm 2008 về các địa phương như thế nào? - Về nội dung kế hoạch năm 2008 của các tỉnh, Bộ sẽ có hướng dẫn như thế nào để đảm bảo các tỉnh xây dựng kế hoạch năm 2008 phù hợp với lộ trình xây dựng chính phủ và khung tương hợp?. - Thời gian nào bộ sẽ có hướng dẫn địa phương về triển khai các nội dung của năm 2008? Trân trọng cảm ơn! (Lê Hữu Nhân, 32 tuổi, Thành phố Thái Nguyên)

Theo nhiệm vụ được giao tại Nghị định 64/2007/NĐ-CP, Bộ TT & TT được giao nhiệm vụ xây dựng chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước giai đoạn 2007-2010. Chương trình này đã được Bộ khẩn trương xây dựng và trình Chính phủ.

Trong thời gian chờ Chính phủ xem xét, phê duyệt, để đảm bảo tiến độ xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2008, tháng 7/2007, Bộ TT-TT đã có 2 văn bản nêu trên, hướng dẫn tạm thời các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT và kinh phí chi sự nghiệp ứng dụng và phát triển CNTT.

Do chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước giai đoạn 2007-2010 chưa được phê duyệt nên chúng tôi chưa có cơ sở để lập kế hoạch kinh phí. Nay có thông báo của Văn phòng Chính phủ về việc sử dụng 200 tỷ cho công tác ứng dụng CNTT năm 2008, Bộ TT-TT đang khẩn trương phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ KHĐT để phân bổ khoản kinh phí này theo nguyên tắc hoạt động ứng dụng CNTT của các cơ quan TƯ do Ngân sách TƯ cấp, hoạt động ứng dụng CNTT của các địa phương do các địa phương đảm nhiệm. Tuy nhiên, đối với các địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách tại địa phương thì Ngân sách TƯ sẽ có hỗ trợ theo từng mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể.

Hiện tại, chúng tôi đang chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để có thể triển khai ngay sau khi chương trình ứng dụng CNTT trong năm 2008 được Chính phủ phê duyệt.

Tôi là một người làm học IT ở Việt Nam, làm về IT trong thời gian 2 năm. Hiện tại tôi đang làm việc tại Hàn Quốc, tôi băn khoăn muốn hỏi, các quan chức Bộ TT-TT đã bao giờ nhận ra những khẩu hiệu ăn to nói lớn của đội ngũ IT và truyền thông Việt Nam thực chất là ...nói quá hay không? Chúng ta có quá ảo tưởng về 1 nền CNTT hiện đại sánh vai với Ấn độ không. Xin thưa so với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Trung Quốc... Việt Nam quá kém về CNTT & TT (Nguyễn Giang, 27 tuổi, Hàn Quốc)

CNTT&TT của chúng ta trong những năm vừa qua đạt được những kết quả đáng ghi nhận, nhưng đúng là so với Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Trung Quốc... CNTT&TT của Việt Nam có một khoảng cách rất xa. So với Ấn độ, một nước có bước phát triển ngoạn mục về công nghiệp phần mềm trong hơn 10 năm qua (doanh số 2006 gần 40 tỷ USD, chúng ta (doanh số 400 triệu USD!) chưa thể nghĩ tới việc “sánh vai” được!

Trong đội ngũ IT và truyền thông Việt nam cũng có một số người “nói quá”, hoặc “ảo tưởng”, nhưng số đó không nhiều nhiều bạn Giang nói. Đa số những người tôi có dịp gặp gỡ và trao đổi đều đánh giá đúng vị thế của chúng ta hiện nay, đều trăn trở vì vị thế này còn chưa tương xứng với tiềm năng của Việt Nam. Tôi nghĩ chúng ta cũng nên lạc quan nhìn về tương lai. Nếu có được những cơ chế chính sách thu hút đầu tư tốt, phát huy các nguồn lực, có sự nỗ lực của doanh nghiệp, tôi nghĩ rẵng chúng ta sẽ tiến được về phía trước rất nhiều.

Kính thưa thứ truởng, theo một số báo chí đưa tin, Bộ đang có bản dự thảo mới thay thế Nghị định 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet trong đó có 7 vấn đề lớn. Tôi đang băn khoăn về nội dung "Cho phép chuyển nhuợng tên miền khi không còn nhu cầu sử dụng và phải trả lệ phí và nộp thuế". Cụ thể vấn đề này như thế nào thưa ông? Trên thế giới, vấn đề chuyển nhuợng tên miền như thế naò? Bao giờ Việt Nam cho phép tên miền đuợc chuyển nhuợng? (Lê Thúy Hạnh, 28 tuổi, Hà Nội)

Nhu cầu chuyển nhượng tên miền đã được đặt ra trong mấy năm nay. Bộ TT-TT cũng đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề pháp lý có liên quan và trong những dự thảo đầu tiên của Nghị định đã đưa vào quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, sau khi nhận được ý kiến góp ý từ các cuộc hội thảo và các đơn vị có liên quan, Bộ thấy rằng không nên đưa nội dung này vào dự thảo Nghị định này, do tên miền .vn được quy định là tài nguyên thông tin quốc gia, trong khi đó Luật Công nghệ thông tin lại chưa quy định về tên miền có được phép chuyển nhượng hay không. Hiện nay việc chuyển nhượng tài nguyên nói chung thường được quy định ở mức luật. Chính vì vậy Bộ đã bỏ quy định về chuyển nhượng tên miền trong dự thảo nghị định và dự kiến sẽ đưa vào trong dự thảo Luật Viễn thông mà hiện nay Bộ đang chủ trì xây dựng.

Tôi xin nêu 2 câu hỏỉ: (1) Hiện nay, việc triển khai ứng dụng CNTT vào hoạt động của cơ quan nhà nuớc tại các địa phuơng phụ thuộc vào việc "có hay không có" bố trí ngân sách, mỗi địa phuơng một khác nhau. Bộ TT và TT đã có tác động nào để chấn chỉnh tình trạng này chưa? (2) Thứ truởng có nói sẽ sớm có kế hoạch 2008 với các nội dung theo ý kiến kết luận của PTT Nguyễn Thiện Nhân. Tuy nhiên, nhiều nội dung trong đó đã đuợc Đề án 112 triển khai với nhiều mức độ khác nhau. Vậy nên chăng phải có đánh giá hiện trạng thực hiện ĐA 112 tại các địa phuơng truớc? (Nguyễn Quang Khoa, 35 tuổi, Quy Nhơn, Bình Định)

Theo Nghị định 64/về ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước, các địa phương có trách nhiệm bố trí đủ ngân sách cho việc triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT (đã được phê duyệt) trong phạm vi quản lý của mình. Bộ TT&TT sẽ theo dõi, đôn đốc các địa phương thực hiện nghiêm túc quy định nêu trên trong Nghị định 64.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Kế hoạch ứng dụng CNTT trong thời gian tới cần tiếp thu kết quả Đề án 112. Chính vì vậy, trong dự thảo kế hoạch, Bộ TT&TT  có đề xuất một số nội dung nâng cấp, hoàn thiện các hệ thống thông tin số đã có: e-mail, quản lý văn bản và điều hành, trang thông tin điện tử...

Đối với các địa phương, trong quá trình xây dựng kế hoach ứng dụng CNTT của mình, cần có đánh giá đầy đủ hiện trạng (bao gồm hiện trạng triển khai Đề án 112) tại địa phương để đảm bảo kế hoạch khả thi.

Những ý kiến trong file gửi kèm không chỉ là một câu hỏi mà còn là lời tâm huyết muốn gởi đến Bộ trưởng và những đồng chí có liên quan. Lá thư này đã được gửi một lần theo địa chỉ mail trên trang thông tin của Bộ Thông tin và truyền thông nhưng không thấy hồi âm. Nay nhân dịp Bộ tổ chức giao lưu trực tuyến, cháu xin gửi lại một lần nữa.. Kính gửi Bộ trưởng Lê Doãn Hợp!. Và các bác, các chú có trách nhiệm trong lĩnh vực quản lý Internet công cộng! Cháu có một vài trăn trở, thắc mắc đối với những quy định hiện hành trong lĩnh vực Quản lý internet hiện tại của Nhà nước ta mà Bộ thông tin & Truyền thông là cơ quan được Chính phủ giao quản lý. Trong các Văn bản QPPL về quản lý Internet trong đó có TTLT số 02 /2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT về quản lý đại lý Internet. Trong đó điểm 3 - mục III quy định như sau:. “Lập sổ đăng ký sử dụng dịch vụ trong đó thống kê đầy đủ, chi tiết thông tin về người sử dụng dịch vụ và người bảo lãnh cho người dưới 14 tuổi bao gồm họ tên; địa chỉ thường trú; số chứng minh thư nhân dân, hộ chiếu (đối với người nước ngoài) hoặc các giấy tờ có giá trị khác như thẻ nghiệp vụ, bằng lái xe, thẻ học sinh, sinh viên... vị trí máy tính và thời gian mà người sử dụng dịch vụ đã sử dụng. Đại lý Internet phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin trong sổ đồng thời có trách nhiệm giữ gìn, bảo quản sổ đăng ký sử dụng dịch vụ để cung cấp cho các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền khi có yêu cầu”. Quy định này còn bắt buộc phải nhập các thông tin này vào chương trình quản lý và ghi vào sổ lưu trữ thông tin trong 30 ngày (lỗi này nếu vi phạm sẽ bị phạt đến 2.000.000đ). Trên thực tế các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương thường dựa vào (tìm) các lỗi này để phạt các chủ đại lý cung cấp dịch vụ Internet – vì họ không tìm ra lỗi nào khác. (quy định này hình như chỉ có ở Việt Nam - Khách hàng là thượng đế mà bị đòi hỏi, tra vấn, xem xét về nhân thân như vậy). Đây là quy định không khả thi trên thực tế. Vì: 1/- Có một số người khi đến truy cập internet không mang bất cứ loại giấy tờ tuỳ thân nào hết, không lẽ trong trường hợp này chủ đại lý không cho khách hàng của mình sử dụng dịch vụ??? (trường hợp này có giấy tờ mà không mang). 2/- Còn một số khách hàng khác không có bất cứ một loại giấy tờ tuỳ thân nào khác (học sinh trên 14 tuổi nhưng nhà trường không làm thẻ học sinh). Trường hợp này chủ đại lý cũng phải từ chối cung cấp nếu không muốn bị phạt!!! (Trường hợp này không có giấy tờ gì để mang). Kính thưa Bác! phải nói thêm rằng số tiền đầu tư để có một dàn máy làm dịch vụ không phải là nhỏ nên không một chủ đại lý nào muốn gặp phiền phức trong quá trình kinh doanh (vì dân bây giờ rất sợ đụng chạm phải cán bộ nhà nước), nhưng với quy định như trên thì khó có thể thực hiện được... Cũng phải nói lại một điều là cháu rất đồng tình đồi với các quy định khác, như: cấm lưu trữ thông tin độc hại, cấm truy cập vào các trang web có nội dung độc hại, đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy, cài phần mềm quản lý, đăng ký kinh doanh, đa số các đại lý đều chấp hành đúng quy định, Còn như quy định về lưu trữ thông tin người truy cập như cháu nói ở trên là không khả thi, không thể thực hiện, và nếu có thì cũng chỉ để đối phó với các cơ quan chức năng (luôn có tư tưởng "vạch lá tìm sâu"). Kinh doanh là một công việc đòi hỏi phải chiều lòng khách hàng vậy mà chỉ vì một quy định khó thực hiện như thế bắt buộc người kinh doanh phải từ chối phục vụ thì cháu thấy phi lý quá. Qua đây cháu vô cùng mong muốn bác và đội ngũ giúp việc xem lại các quy định trên để những gia đình như cháu có thể nhờ vào đây sống tạm qua ngày... Mong nhận được sự quan tâm, chia sẻ và hồi âm của Bác và những người có thẩm quyền! Lời cuối cháu kính chúc bác sức khoẻ dồi dào và có nhiều quyết sách đúng đắn có lợi cho đất nước! (Trần Thanh Bình, Bạc Liêu)

Cảm ơn những ý kiến phản ảnh và đóng góp của bạn. Đại lý Internet thời gian qua đã đóng góp rất tích cực vào việc giúp cho một tầng lớp những người có thu nhập thấp/ học sinh, sinh viên, khách vãng lai,… có cơ hội truy cập và sử dụng Internet để trao đổi thông tin, học tập, giải trí,… Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực thì vào những năm 2004, 2005 đã xuất hiện một số vấn đề  tiêu cực ảnh hưởng nghiêm trọng đến lớp trẻ đặc biệt là học sinh đã dễ dàng truy cập các trang sex tại đại lý Internet mà không ai quản lý, bỏ học chơi game online… Vì vậy các cơ quan QLNN buộc phải có những biện pháp mạnh để hạn chế vấn đề này. Thời gian qua Bộ cũng đã được nghe phản ảnh lại một số điểm không hợp lý và thiếu tính khả thi của TT02, trong đó có ý kiến như cháu đã phản ánh. Những ý kiến đó đã được nghiên cứu nghiêm túc và tiếp thu trong Nghị định mới của CP sắp ban hành để thay thế NĐ quản lý Internet hiện hành.

Kính thưa bộ trưởng: Ngành CNTT đã có những chiến lược phát triển như thế nào trong thời kỳ hội nhập (Nguyễn văn ÂN - Nam 30 tuổi - Phòng 424 lô J cư xá Thanh Đa)

Xin cám ơn câu hỏi của bạn. Ngày 07/07/2007, Bộ trưởng Bộ Bưu chính - Viễn thông (nay là Bộ TT-TT) đã có chỉ thị số 07/CTBBCVT về Định hướng chiến lược phát triển CNTT-TT tại Việt Nam. Trong đó, mặc dù ngành C