Trang chủ English Forum Liên lạc Sơ đồ Tìm kiếm:


số lượt truy cập
1200079

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trang chủ » Tin tức » Vấn đề quan tâm » Năm 2008 » Tháng 1 » Bộ TT&TT trả lời trực tuyến
Bộ TT&TT trả lời trực tuyến
Vào lúc 09:00 sáng 09/01/2008, tại trụ sở Bộ Thông tin và Truyền thông, Thứ trưởng Thường trực Lê Nam Thắng bắt đầu bầu trả lời trực tuyến những vấn đề người dân quan tâm về viễn thông, Internet, truyền dẫn phát sóng.


Thứ trưởng Thường trực Lê Nam Thắng (hàng đầu, bên phải) tại buổi trực tuyến

Nội dung buổi trực tuyến được đồng thời đăng tải trên trang Web của Bộ TT&TT www.mic.gov.vn, báo điện tử VietnamNet, ICTnews.vn và VTC.vn. Đây sẽ là hoạt động thường kỳ của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Trong những ngày qua, báo điện tử VietnamNet, ICTnews đã nhận được hàng trăm câu hỏi của độc giả gửi về cho buổi trực tuyến của Thứ trưởng. Nhiều câu hỏi về chất lượng dịch vụ Internet, di động.

Chất lượng dịch vụ Internet

Bộ TT-TT có phương pháp nào để các nhà cung cấp dịch vụ của VN đảm bảo về tốc độ đường truyền vượt ngưỡng 'rùa bò' như hiện nay? (Nguyễn Phi Công, Quảng Ninh; Nguyễn Minh Hùng, Quảng Bình; Hoàng Hải Nam, Tuyên Quang)

Để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ truy nhập Internet ADSL TCN 68-227:2006, trong TCN này có quy định 9 chỉ tiêu chất lượng dịch vụ và các mức chất lượng tối thiểu mà doanh nghiệp phải tuân thủ.

Đối với chỉ tiêu về Tốc độ tải dữ liệu trung bình, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phải đảm bảo tốc độ tải dữ liệu trung bình nội mạng (wesite của chính doanh nghiệp cung cấp dịch vụ) tối thiểu là 80% và ngoại mạng (website không phải của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ) tối thiểu là 60% so với tốc độ danh định của đường truyền (tốc độ của gói dịch vụ nêu trong trong hợp đồng cung cấp dịch vụ), mặc dù trong hợp đồng cung cấp dịch vụ không có cam kết về tốc độ tối thiểu nhưng doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo mức chất lượng như trên. Tuy nhiên cũng cần lưu ý là do tốc độ tải dữ liệu phụ thuộc vào hệ thống mạng của website mà ta truy nhập (gồm năng lực của server, dung lượng đường truyền kết nối với Internet…) nên việc đo kiểm, đánh giá và kết luận về chỉ tiêu tốc độ tải dữ liệu trung bình của doanh nghiệp được thực hiện trên cơ sở các webiste mạnh, ổn định như website của các ISP (Viettel, FPT, VNPT…), website của các báo điện tử Dân trí, Tuổi trẻ, Thanh niên, VietnamNet hay các website Yahoo, Microsoft…

Đối với chỉ tiêu thời gian thiết lập dịch vụ: Theo TCN 68-227:2006 thì doanh nghiệp phải đảm bảo 90% số hợp đồng có thời gian thiết lập dịch vụ trong khoảng thời gian quy định như sau: Trường hợp đã có sẵn đường dây thuê bao thì thời gian thiết lập dịch vụ không được quá 05 ngày; Trường hợp chưa có đường dây thuê bao thì thời gian thiết lập dịch vụ không được quá 12 ngày đối với khu vực nội thành, thị xã, 20 ngày đối với khu vực khác. Trong trường hợp doanh nghiệp không thể ký hợp đồng cung cấp dịch vụ thì trong vòng 3 ngày kể từ thời điểm nhận được yêu cầu cung cấp dịch vụ của khách hàng, doanh nghiệp phải có văn bản thông báo cho khách hàng về việc từ chối ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ và nêu rõ lý do từ chối.

Đối với các dịch vụ khác như dịch vụ điện thoại di động, cố định… Bộ Thông tin và Truyền thông cũng có các tiêu chuẩn ngành tương ứng, trong đó có các chỉ tiêu như Độ chính xác ghi cước; Tỷ lệ cuộc gọi bị tính cước, lập hoá đơn sai… và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cũng phải tuân thủ mức chất lượng tối thiểu quy định tại các tiêu chuẩn này.

Về công tác quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông nói chung và dịch vụ truy nhập Internet ADSL nói riêng, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành “Quy định về quản lý chất lượng dịch vụ bưu chính, viễn thông”, theo Quy định này thì các doanh nghiệp sẽ phải công bố mức chất lượng dịch vụ tối thiểu (không thấp hơn quy định của TCN) và phải đảm bảo mức chất lượng dịch vụ mà mình công bố. Cơ quan quản lý nhà nước (gồm Cục Quản lý chất lượng Bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin và các Sở Bưu chính Viễn thông các tỉnh) sẽ kiểm tra, giám sát và xử phạt nếu doanh nghiệp không đảm bảo mức chất lượng đã công bố. Ngoài ra mức chất lượng dịch vụ mà doanh nghiệp công bố cũng như kết quả kiểm tra chất lượng dịch vụ cũng đã được Bộ Thông tin và Truyền thông công khai trên website www.ptqc.gov.vn để khách hàng nắm được thông tin.

Cấp phép 3G và WiMAX, TCT GTel của Bộ Công an

Xin Thứ trưởng cho người dân biết bao giờ Việt Nam có công nghệ 3G? (Đinh Văn Tuấn, Sầm Sơn Thanh Hoá)

Thủ tướng Chính phủ đã nhất trí cấp phép 3G theo hình thức Thi tuyển (Beauty Contest). Bộ TT&TT đã ban hành Quy định thi tuyển, thành lập Hội đồng thi tuyển và đang gấp rút tham khảo kinh nghiệm quốc tế, lấy ý kiến tư vấn, tham gia của doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ mời thi tuyển. Dự kiến kế hoạch sẽ phát hồ sơ mời thi tuyển trong tháng 2/2008, doanh nghiệp sẽ có 3 tháng chuẩn bị hồ sơ, sau đó Hội đồng sẽ chấm điểm các hồ sơ (1 tháng), báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ và tiến hành cấp phép cho các hồ sơ trúng tuyển trong Qúy II/2008. Có thể doanh nghiệp sẽ mất 1 đến 2 năm triển khai.

Đúng là việc tổ chức đấu giá tần số 3G sẽ giúp nhà nước thu được khoản tiền từ các doanh nghiệp cho việc sử dụng tài nguyên tần số. Tuy nhiên, việc đấu giá tần số cũng sẽ tạo ra gánh nặng cho các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam vì phải dành một lượng tiền lớn cho việc này trong khi nguồn lực tài chính của một số doanh nghiệp chưa phải đã dư thừa.

Điều này ảnh hưởng đến việc đầu tư, phát triển mở rộng hạ tầng mạng lưới của các doanh nghiệp Việt Nam nhất là trong giai đoạn cần phải tập trung nguồn lực để tạo lập thế mạnh canh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài trong những năm tới khi Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết của mình trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông với WTO.

Tại một số nước trên thế giới (như Đức, Hà lan, Ý, Pháp, Anh) do quá kỳ vọng vào dịch vụ 3G nên các doanh nghiệp đã trả giá rất cao để có được giấy phép 3G. Điều này đã tác động ngược trở lại, làm ảnh hưởng đến khả năng triển khai mạng lưới và cung cấp dịch vụ 3G của doanh nghiệp. Do đó, việc tổ chức thi tuyển 3G sẽ đảm bảo được mục tiêu thu phí, lệ phí tần số phù hợp với nguồn tài chính của các doanh nghiệp hiện nay nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu xã hội thông qua các cam kết thực hiện của các doanh nghiệp. Hơn nữa, việc tổ chức thi tuyển cũng tạo điều kiện cho doanh nghiệp có điều kiện tập trung nguồn lực phát triển hạ tầng.

Như vậy có thể thấy hình thức đấu thầu tần số hay Thi tuyển đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Bộ TT&TT đã nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong việc cấp phép 3G (thực tế là IMT-2000 trong dải tần 1900-2200 MHz) để áp dụng vào Việt Nam.. Cùng với sự phát triển của dịch vụ 3G trong thời gian gần đây, tất cả các nước cấp phép sau này đều áp dụng hình thức Thi tuyển, vì ngoài nội dung về tài chính, còn nhiều tiêu chí khác. Tôi cho rằng, thi tuyển là hình thức phù hợp nhiều nước đã lựa chọn đối với 3G.

Ngày 20/11/2007 Bộ TTTT đã ban hành quy định (theo QĐ số 415/QĐ-BTTTT) về việc cấp phép thiết lập mạng 3G (WCDMA) trong băng tần 1900-2200MHz sẽ được thực hiện thông qua hình thức thi tuyến. Đối tượng  được tham gia thi tuyển là các doanh nghiệp viễn thông đã được cấp phép TLM&CCDV viễn thông di động mặt đất.

Doanh nghiệp trúng tuyển được xét cấp một GP TLM&CCDV 3G (thời hạn 15 năm) và một giấy phép băng tần (thời hạn 15 năm) để sử dụng 1 trong 4 lô tần số trong đoạn băng tần 1900-2200MHz.

Thứ trưởng có thể cho biết, mỗi năm chúng ta thu được bao nhiêu ngân sách từ việc thu phí tần số? Tại sao không tổ chức đấu thầu khai thác dải tần? (Một doanh nghiệp ở Vũng Tàu)

Trong pháp lệnh Bưu chính Viễn thông chưa tiến hành đấu thầu phát tần số, mà chỉ thu phí theo các quyết định 22/2005 QĐ BCVT và 69/2007 BCVT, thu phí dựa trên độ rộng băng tần, giá trị cung cấp dịch vụ của băng tần đó. Hiện tại ngân sách 2007 thu được 280 tỷ đồng phí tần số.

Hiện chúng ta chưa đấu giá phổ tần, trên thế giới cũng chỉ có một số nước đấu giá phổ tần trên một số băng tần, chứ không làm toàn bộ.

Ta đang nghiên cứu kinh nghiệm và sẽ quy định hình thức đấu giá trên  một số tần số, nếu được Quốc hội chấp nhận. Vấn đề thu phí, đấu giá thì mỗi quốc gia nghiên cứu kỹ, xác định mục đích là để thu tiền hay phát triển dịch vụ phát thanh truyền hình trên các băng tần đó. Điều này sẽ được Chính phủ quyết định.

Thưa thứ trưởng, chúng tôi là một doanh nghiệp gia công phần mềm. Xin ông cho biết đến bao giờ giá cước thuê kênh riêng giảm xuống 50% nữa? Hiện giá cước thuê kênh của Việt Nam còn quá cao và chi phí này hiện là một gánh nặng của chúng tôi. (Tấn Thi, TP.HCM).

Về cước thuê kênh, trong thòi gian qua thực sự là đầu vào của doanh nghiệp vì doanh nghiệp gia công cần thuê đường truyền dẫn. Bộ Bưu chính Viễn thông, nay là Bộ Thông tin và Truyền thông đã chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động, giảm giá thành để có điều kiện giảm giá cước dịch vụ này. Thời gian qua, giá cước thuê kênh ở Việt Nam đã giảm đến 50% và hiện nay đã tiến sát mức bình quân của khu vực. Với việc tham gia của Việt Nam vào các dự án truyền dẫn khu vực và quốc tế, tới đây cước thuê kênh sẽ tiếp tục giảm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào.

Với nhiều dịch vụ truyền hình như truyền hình số mặt đất, truyền hình TVH, truyền hình số vệ tinh, truyền hình cáp... Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý hạ tầng truyền dẫn phát sóng phát thanh truyền hình ra sao, và có lộ trình thế nào để tiến tới "số hóa" hạ tầng này, thưa Thứ trưởng? (Hoàng Văn An, Đà Nẵng).

Hiện Bộ Thông tin và Truyền thông đã đưa ra 4 định hướng: xây dựng hạ tầng hiện đại, tiên tiến, truyền dẫn trên cùng một hạ tầng. Phân định rõ hoạt động sản xuất với hoạt động truyền dẫn, để hình thành thị trường phát thanh, truyền hình với hai tiêu chí:

- Đạt chuẩn nội dung theo luật báo chí, và chuẩn của hạ tầng công nghệ PTTH theo các quy định viễn thông, Internet.

- Đẩy mạnh quá trình số hóa toàn bộ hạ tầng truyền dẫn, đến 2010, ngừng hệ thống truyền dẫn cũ.

Nhằm mục tiêu thúc đẩy và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia và việc truyền dẫn phát sóng, phát thanh truyền hình. Trong năm 2008, nếu quy hoạch được phê duyêt, bộ cũng sẽ phối hợp với các bộ ngành liên quan xây dựng đề án này. Năm 2008, Bộ chủ trì xây dựng đề án Số hóa hạ tầng phát thanh, truyền hình.

Thưa Thứ trưởng, tôi được biết công ty di động Vimpelcom sắp vào thị trường Việt Nam. Vậy bao giờ họ được cung cấp dịch vụ tại Việt Nam Tôi được biết Công ty Vimpelcom liên doanh với một TCT của Bộ Công an để xin giấy phép 3G. Vậy khả năng cấp giấy phép 3G cho công ty này là bao nhiêu % khi quy định của Bộ là phải có mạng lưới, khách hàng, doanh thu... Cám ơn Thứ trưởng. (Nguyễn Đức Tuấn, Hà Tĩnh và Hữu Lợi, Hà Nội)

Theo quy định của pháp luật VN, nếu các công ty nước ngoài muốn tham gia thị trường phải thông qua hình thức đầu tư trực tiếp (Thành lập công ty...) hoặc gián tiếp (mua cổ phần doanh nghiệp trong nước...).

Chúng tôi chưa có thông tin cụ thể là công ty Vimpelcom sẽ tham gia dưới hình thức nào nên khó có thể trả lời chính xác câu hỏi của bạn. Tuy nhiên, đã có một số công ty nước ngoài khác như G-Tel đã được Thủ tướng đồng ý về nguyên tắc. Hiện giờ chúng tôi đang xem xét cấp phép cho G-Tel theo đúng các quy định về cấp phép viễn thông của VN.

Đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông có văn bản chính thức thông báo tới toàn dân về việc sóng điện từ của các trạm BTS có ảnh hưởng đến sức khỏe người dân hay không ảnh hưởng để các cấp chính quyền, nhân dân biết và không gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi thực hiện xây dựng vận hành các trạm BTS. Đây là một vấn đề bức xúc nhất hiện nay của cả nhân dân và các doanh nghiệp viễn thông. Nếu không giải quyết được vấn đề này, chất lượng mạng sẽ còn thấp do số lượng trạm BTS còn ít (Vũ Anh Tài, Bắc Ninh)

Về việc vướng mắc trong xây dựng các trạm BTS tại một số địa phương, Bộ Thông tin và Truyền thông đã nhiều lần có văn bản trả lời trực tiếp cũng như trao đổi trên các phương tiện thông tin nêu rõ:

- Tháng 5/2006 Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khẳng định “Qua xem xét mức tín hiệu thấp (của các trạm thu phát) và các kết quả nghiên cứu thu thập được, chưa có bằng chứng khoa học cho thấy tín hiệu vô tuyến yếu từ các trạm thu phát và mạng không dây gây hại cho sức khỏe con người” (trích tài liệu Electromagnetic fields and public health - Base stations and wireless technologies – WHO Fact sheet N°304 - May 2006).

- Ở Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổng các kết quả nghiên cứu của WHO và báo cáo gửi Văn phòng Chính phủ (công văn số 616/BKHCN-KHCNN ngày 20/3/2006 của Bộ Khoa học và Công nghệ; công văn số 2462/BQP ngày 23/5/2006 của Bộ Quốc phòng; công văn số 1251/BBCVT-KHCN ngày 28/6/2006 của Bộ Bưu chính, Viễn thông – nay là Bộ Thông tin và Truyền thông).

Về quản lý chuyên ngành, Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đã thực hiện quản lý chặt chẽ theo đúng các tiêu chuẩn chuyên ngành. Từng trạm BTS sẽ được kiểm định trước khi đưa vào sử dụng.

Riêng về vấn đề an toàn bức xạ sóng điện từ: Theo thông tin từ Cục QLCL BCVT&CNTT, qua một năm thực hiện việc kiểm định này, những trạm được kiểm định đều thỏa mãn các yêu cầu trong Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3718-1:2005. Theo tính toán lý thuyết, đối với một trạm BTS điển hình, có công suất tổng của các máy phát là 144 W, giới hạn an toàn theo TCVN 3718-1:2005 là 2 W/m2 thì khu vực bị hạn chế tiếp cận (thâm nhập) là khoảng 10 m (tính từ anten). Khu vực này thường ở trên nóc các nhà cao và ở các điều kiện bình thường, người dân không đi vào được. Ở phía dưới anten thì sóng điện từ rất yếu. Tuy nhiên, theo quy định, tất cả các trạm BTS đều phải được kiểm định trước khi đưa vào sử dụng, khai thác.

Công bố có 1 triệu thuê bao băng rộng, nhưng lại tới 20% dân số sử dụng Internet? Có gì vênh nhau giữa hai số liệu này? (Hoàng Trần)

Số lượng thuê bao Internet bao gồm tất cả các loại hình, từ thuê bao cá nhân, thuê bao công cộng, điểm truy cập Internet không dây. Theo cách tính này thì có tỷ lệ quy đổi giữa lượng người thuê bao với lượng người sử dung.

Ví dụ: Một cơ quan chỉ có một thuê bao nhưng có tới 40 - 50 người sử dụng, một điểm Internet công cộng cũng vậy. Vì thế, lượng người sử dụng thực tế nhiều hơn rất nhiều lượng người đăng ký thuê bao. Tỷ lệ thuê bao này sẽ có điều chỉnh, thích hợp dần theo thời gian.

Tôi có một đại lý Intenet nhỏ, nhưng từ ngày bưu điện tỉnh nhà bắt buộc phải lắp đặt phần mềm quản lý Intenet do bưu điện cung cấp để quản lý khách hàng, yêu cầu khách hàng phải trình CMND, hoặc hộ chiếu, thẻ học sinh ... thì quán hình như vắng khách hẳn. Đặc biệt bây giờ các các nhà cung cấp dịch vụ gameonline trực tuyến người ta cũng đã có phần mềm hạn chế khách hàng chơi game nhiều giờ mà chỉ được chơi trong 3 tiếng.Vì vậy tôi thiết tha mong Thứ trưởng xem xét lại vấn đề này để cho những đại lý rất nhỏ như tôi có điều kiện sinh sống. Tôi chân thành cảm ơn. (Tống Thị Kim Dung, Đồng Sơn, Đồng Hới, Quảng Bình)

Tình trạng các cán bộ làm công tác kiểm tra đại lý Internet tiêu cực, nhũng nhiễu, vòi vĩnh các chủ đại lý là rất phổ biến. Hầu như công việc của họ là phạt và phạt, vòi tiền một cách công khai, trả giá các mức phạt như trả giá ngoài chợ, hẹn gặp làm việc vào các ngày nghỉ (thứ 7, chủ nhật). Đối với các đại lý không có giấy phép kinh doanh thì thu tiền phạt không biên nhận và làm ngơ để vòi tiền liên tục. Đặc biệt những cán bộ này lại làm công tác quản lý về văn hoá xã hội của phòng văn hoá thông tin. Quan điểm của Bộ TT-TT sẽ xử lý vấn đề này như thế nào? (Nguyễn Ninh HA, Ninh Hòa, Khánh Hòa)

Để hạn chế các hiện tượng tiêu cực trên, các chủ đại lý phải tìm hiểu, nắm vững quyền hạn và trách nhiệm của mình từ thông tư 02; thông tư liên tịch 60 về quản lý game online; các mức xử phạt quy định trong Nghị định 55 của CP; Nghị định 56 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá, thông tin; thông tư 03, 05 của Bộ BC-VT về xử phạt vi phạm....

Khi người dân hoặc chủ đại lý phát hiện những bằng chứng cho thấy cán bộ thanh tra, kiểm tra nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà, vòi vĩnh... họ cần phải báo ngay cho cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương (Sở BC-VT) hoặc công an. Các hiện tượng này sẽ bị xử lý nghiêm trước pháp luật khi có bằng chứng hoặc bị cơ quan công an bắt quả tang tại chỗ.

Thứ trưởng thường trực Bộ TT-TT Lê Nam Thắng:  Hiện có rất nhiều phần tử xấu lợi dụng interent thực hiện hành vi vi phạm pháp luật: phát tán virus, trộm cắp... Thông tư 02 về quản lý internet quy định khách hàng cung cấp CMND để cơ quan quản lý nhà nước dễ quản lý, trừng trị những phần tử xấu theo pháp luật.

Tại pháp lệnh BC- VT quy định việc đảm báo bí mật thông tin riêng, nếu tiết lộ bí mật sẽ bị xử lý theo nghị định 142, xử lý vi phạm hành chính. Chỉ có cơ quan an ninh mới có chức năng tra cứu các thông tin về số chứng minh nhân dân để phục vụ công tác điều tra.

Gần đây, một số báo đăng tin HT Mobile xin chuyển sang GSM. Liệu Bộ TT-TT có chấp nhận một công ty đang khai thác nền tảng công nghệ này chuyển sang đăng ký một nền tảng CN hoàn toàn khác hay không? (Thái Khang, Cầu Giấy)

Chính sách quản lý chung của Bộ là trung lập về mặt công nghệ. Các doanh nghiệp căn cứ vào năng lực của mình, vào nhu cầu thị trường và thực tế công nghệ để lựa chọn công nghệ cung cấp.

Lấy thí dụ, China Unicom của Trung Quốc vừa khai thác cả GSM lẫn CDMA. Ở Úc, mạng Telstra đã chuyển từ GSM lên WCDMA ngay trên nền băng tần 800.

Chính vì vậy, chúng tôi cũng không phản đối việc doanh nghiệp chuyển từ công nghệ này sang công nghệ khác, miễn là việc làm đó không ảnh hưởng đến quyền lợi khách hàng và doanh nghiệp, cũng như không gây xáo trộn gì lớn cho thị trường.

Nhà báo Huyền Sâm: Vậy Thứ trưởng Lê Nam Thắng có thể xác nhận sự việc HT Mobile xin đổi sang công nghệ GSM hay không?

HT Mobile đã có công văn xin chuyển từ CMDA sang e-GSM tức là GSM mở rộng. Hiện tại chúng tôi đang xem xét và nghiên cứu công văn này.

Xin hỏi Thứ trưởng, sau khi tiến hành công tác thanh tra, đo kiểm chất lượng viễn thông, Bộ có tiền hành đo kiểm, thanh tra chất lượng Internet hay không? (Huy Phong, Hà Nội)

Sau một thời gian tiến hành công tác quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông, chúng tôi nhận thấy chất lượng dịch vụ di động đã nâng cao rõ rệt. Hiện nay, công tác kiểm tra chất lượng dịch vụ được tiến hành thường xuyên hàng năm, theo kế hoạch của Cục và kết quả sẽ được công bố hàng năm.

Tôi nghe nói Bộ đang xây dựng các quy định quản lý nội dung Internet. Vậy Việt Nam có học Trung Quốc hạn chế tư nhân đăng video trực tuyến không? (Nguyễn Hương An, Hà Nội)

Phải nói hình thức blog và nội dung video trực tuyến đang phát triển rất mạnh trên thế giới, cũng như ở Việt Nam. Theo thống kê không chính thức, ở Việt Nam cũng có tới hàng triệu blogger. Nhìn chung, cộng đồng blog Việt Nam đang phát triển khá tốt, tích cực và lành mạnh. Họ đã phát huy được thế mạnh của blog cả trong chia sẻ thông tin, giao lưu, giải trí và nhiều hoạt động khác....

Tuy nhiên, cũng có một số ít lợi dụng blog để đăng tải, truyền bá các nội dung vi phạm các quy định về trật tự trị an xã hội hay thuần phong mỹ tục.

Mặc dù vậy, không thể vì số ít người vi phạm mà Bộ xây dựng hẳn một chế tài nghiêm cấm, hạn chế hay xử phạt blog được. Tình hình cụ thể ở mỗi nước mỗi khác, nên tuy một số nước  đã có quy định cấm blog, đặc biệt là video blog, nhưng trong nghị định mới thay thế Nghị định 55, chúng tôi vẫn đề xuất cho phép mọi người dùng được sử dụng các dịch vụ trên nền Internet, trong đó có blog.

Tuy nhiên, vai trò, trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ blog, dịch vụ chia sẻ video được quy định hết sức chặt chẽ nhằm hạn chế tối đa các biểu hiện tiêu cực. Họ phải thường xuyên kiểm tra dịch vụ của mình, nếu phát hiện hiện tượng vi phạm phải báo cáo ngay cho cơ quan quản lý nhà nước. Nói tóm lại, Bộ sẽ quản lý theo cơ chế hậu kiểm. Điều quan trọng là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia cung cấp, khai thác dịch vụ trên nền Internet. 

Tại làng tôi, khi chúng tôi sử dụng điện thoại kéo dài thì bị phạt, và cấm dùng. Cũng trong xã, khi các đài phát thanh chuyển từ hệ thống phát thanh có dây sang hệ thống không dây (thường là thiết bị của Trung Quốc) thì cũng bị phạt, và cấm sử dụng. Xin hỏi Thứ trưởng nguyên nhân tại sao và cách thức giải quyết thế nào? (Hoàng Hùng, Hà Tây)

Theo các quy định hiện hành của nhà nước trong Nghị định 24 về quản lý tần số, những thiết bị không dây phải có giấy phép của Cơ quan quản lý Vô tuyến điện mới được sử dụng.

Hiện nay, điện thoại không dây kéo dài có 2 loại: một loại phù hợp với băng tần chung, có thể sử dụng mà không cần xin phép. Loại thứ 2 được nhập vào VN từ các con đường bất hợp pháp, có công suất và băng tần không phù hợp với quy định của VN, gây can nhiễu với các dải tần khác... nên sẽ bị kiểm tra và xử phạt theo quy định của pháp luật. 

Thật ra, theo quy định của luật, hệ thống truyền thanh không dây khi sử dụng cũng phải có giấy phép của cơ quan quản lý tần số. Hiện tại, việc lắp đặt và sử dụng hệ thống phát thanh không dây ở các địa phương khá tuỳ tiện, thiếu hướng dẫn và không có giấy phép.

Chúng tôi đang phối hợp với các sở Bưu chính Viễn thông địa phương để kiểm tra xem các hệ thống này có gây can nhiễu đến các hệ thống phát sóng điện khác không. Nếu không sẽ xem xét hướng dẫn cấp phép. Trường hợp bạn nêu có thể các hệ thống đó không phù hợp với quy hoạch tần số hoặc làm can nhiễu các hệ thống phát thanh, truyền hình, phát sóng ở địa phương nên bị xử lý.

Hiện cục tần số cũng đang đề xuất sử dụng thêm băng tần thấp để không ảnh hưởng đến việc phát sóng của các đài phát thanh chính thống.

Nhiều DN được cấp phép nhưng không triển khai, vậy Bộ có thu hồi giấy phép không? Tại nhiều quốc gia, việc cấp phép luôn đi kèm quy định về việc mở rộng thị trường, tăng số thuê bao. Sao ta không có quy định này để các DN phải tính toán kỹ khi xin cấp phép? (một độc giả tại Bắc Giang)

Liên quan đến việc cấp phép, DN phải có đề án xin phép, trong đó ngoài tư cách pháp lý thì có 2 nội dụng chính là đề án kỹ thuật và phương án kinh doanh chỉ rõ trong 5 năm đầu triển khai thực hiện đề án như thế nào? Quy định hiện hành đã có những yêu cầu, ví dụ DN cung cấp dịch vụ điện thoại di động phải mở rộng vùng phủ sóng như thế nào, tăng thuê bao ra sao?

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai giấy phép thì có DN tuân thủ đúng, thậm chí triển khai vượt kế hoach họ đề ra. Nhưng cũng có DN triển khai chậm, và có DN chưa triển khai theo cam kết. Theo quy định, sau 2 năm không triển khai dịch vụ internet thì thu hồi giấy phép nếu không có lý do chính đáng.

Nhưng cũng còn phụ thuộc vào sự phát triển thị trường. Bộ sẽ trên cơ sở cam kết của DN và sự phát triển thị trường để có hình thức xử lý phù hợp. Thời gian tới Bộ sẽ giám sát mạnh hơn việc triển khai của DN, biện pháp mạnh tay hơn để đảm bảo việc triển khai của DN.

Chúng ta đang có 1 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông thứ 7 đang xin phép thành lập, Bộ có cho phép không? Và hiện nay ở VN có 7 nhà cung cấp dịch vụ, liệu số lượng đó có quá nhiều không? (Mạnh Hùng, Hà Nội)

Ở Việt Nam có hai loại hình doanh nghiệp: loại hình doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng viễn thông, và loại hình doanh nghiệp dịch vụ viễn thông. Mới đây, hãng GTel được đồng ý về nguyên tắc tham gia thị trường viễn thông.

Tuân thủ Pháp lệnh Bưu chính viễn thông và nghị định 160, nếu doanh nghiệp nào đáp ứng các yêu cầu về tài nguyên, quy hoạch, Bộ sẽ xem xét cấp phép.cung cấp hạ tầng và cung cấp dịch vụ. Nếu doanh nghiệp này đáp dứng các điều kiện cấp phép về tài nguyên viễn thông theo đúng quy hoạch thì bộ sẽ xem xét cấp phép.

Nếu doanh nghiệp này đáp ứng được các điều kiện cấp phép về tài nguyên viễn thông theo đúng quy hoạch thì Bộ sẽ xem xét cấp phép.

Theo đúng quy định WTO, Thị trường không hạn chế doanh nghiệp số lượng tham gia thị trường. Việc tham gia thị trường phụ thuộc chủ yếu vào tần số tài nguyên viễn thông. Chúng tôi kiến nghị với Chính phủ, làm sao không chỉ các doanh nghiệp Nhà nước được tham gia thị trường viễn thông Việt Nam.

Về con số 7 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, theo tôi hiểu là di động: Thị trường viễn thông nhỏ, quy mô của các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam nhỏ, nên hiện tại, số lượng doanh nghiệp chưa ảnh hưởng nhiều. Nhưng về lâu dài, khi giá cước giảm, cạnh tranh tăng, tôi cho rằng con số này là nhiều.

Nhà báo Huyền Sâm:  Đến 11h05 phút trưa, dù còn khá nhiều câu hỏi của độc giả trên cả nước gửi về, nhưng do thời lượng của cuộc đối thoại trực tuyến có hạn, những câu hỏi của quý độc giả sẽ tiếp tục được gửi đến Thứ trưởng Thường trực Lê Nam Thắng và các Cục, Vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông để trả lời sau. Nội dung toàn văn cuộc đối thoại trực tuyến sẽ được cập nhật trong ít phút nữa. Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng thường trực Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Nam Thắng đã trả lời các câu hỏi. Cảm ơn sự quan tâm theo dõi và đặt câu hỏi nhiệt tình của quý độc giả.

Thứ trưởng thường trực Bộ TT&TT Lê Nam Thắng: Trong hơn 2 tiếng vừa qua, dù thời gian có hạn, nhưng Bộ Thông tin và Truyền thông đã cố gắng trả lời được phần lớn các câu hỏi quý độc giả gửi  về. Thay mặt Bộ Thông tin và Truyền thông, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các độc giả đã quan tâm theo dõi và nhiệt tình đặt câu hỏi cho cuộc đối thoại trực tuyến. Cảm ơn Báo điện tử VietNamNet đã phối hợp tổ chức cuộc đối thoại trực tuyến này cùng Bộ Thông tin và Truyền tin.

(Nguồn: ICTnews - 09/01/2008)

     In    phản hồi    Lên đầu trang

Các tin đã đưa:
  • Bộ Thông Tin Truyền Thông vào cuộc  (08-01-2008)
  • Việt Nam tiến bộ nhảy vọt về chỉ số chính phủ điện tử  (07-01-2008)
  • 2008: Khi CNTT-TT đã ngấm…  (03-01-2008)
  • Trang chủ English Forum Liên lạc Sơ đồ
         
    Tài trợ chính Tài trợ đường truyền Tài trợ Server