Trang chủ English Forum Liên lạc Sơ đồ Tìm kiếm:


số lượt truy cập
1162504

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trang chủ » Tin tức » Vấn đề quan tâm » Năm 2008 » Tháng 1 » Xếp hạng Chính phủ điện tử Việt Nam năm 2008 tăng 14 bậc theo báo cáo của Liên Hợp quốc
Xếp hạng Chính phủ điện tử Việt Nam năm 2008 tăng 14 bậc theo báo cáo của Liên Hợp quốc
Theo báo cáo của Liên hợp quốc, chỉ số sẵn sàng Chính phủ điện tử của Việt nam năm 2008 tăng 14 bậc so với năm 2005, chỉ số Website tăng 50 bậc, trong khi xếp hạng chỉ số sẵn sàng Chính phủ của đa số các nước trong khu vực (Hàn quốc, Trung quốc, Singapore, Thái lan…) giảm bậc. Theo báo cáo của Đại học Brown (Hoa Kỳ), xếp hạng chỉ số Chính phủ điện tử của Việt nam tăng 36 bậc so với năm 2006. Đây là những tin vui đối với những người tham gia triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước ở Việt nam. Bài viết này phân tích báo cáo xếp hạng chỉ số sẵn sàng Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc, từ đó rút ra một số nội dung cần triển khai trong thời gian tới nhằm góp phần nâng cao thứ hạng Chính phủ điện tử Việt nam trên các bảng xếp hạng thế giới và tăng cường hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước.

Mở đầu

Hàng năm, để đánh giá mức độ ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) của các quốc gia trên thế giới, nhiều cơ quan, tổ chức quốc tế tiến hành đánh giá, xếp hạng các nước theo các chỉ số khác nhau. Các chỉ số thường được trích dẫn, sử dụng bao gồm: chỉ số sẵn sàng kết nối mạng (Networked Readiness Index - NRI) của Diễn đàn Kinh tế thế giới (World Economic Forum - WEF), chỉ số sẵn sàng điện tử (e-readiness) của Cơ quan tình báo kinh tế (Economist Intelligence Unit - EIU), chỉ số sẵn sàng chính phủ điện tử (e-government readiness) của Liên hiệp quốc (United Nations - UN), của Đại học Brown (Hoa Kỳ), của Đại học Waseda (Nhật Bản).

Trong những năm 2003, 2004, 2005, Vụ Kinh tế và các vấn đề xã hội (UNDESA) thuộc Liên hiệp quốc đã tiến hành các cuộc điều tra trên phạm vi toàn cầu nhằm đưa ra những đánh giá và xếp hạng CPĐT của các nước thành viên thuộc Liên hiệp quốc. Số quốc gia được xếp hạng đã tăng lên từ 173 nước năm 2003 lên 178 nước năm 2004, 179 nước năm 2005 và 182 nước năm 2008. Thực tế, với quy mô điều tra trên phạm vi toàn cầu, phương pháp luận xây dựng hệ thống chỉ số khoa học, kết quả đánh giá, xếp hạng CPĐT của Liên hiệp quốc có thể được sử dụng làm cơ sở để các quốc gia xác định những điểm mạnh, điểm yếu trong việc ứng dụng CNTT nói chung và ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước nói riêng, từ đó có những điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong toàn xã hội, góp phần nâng cao chất lương sống của người dân.

Trong những năm gần đây, ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, hướng tới xây dựng Chính phủ điện tử (CPĐT) là một trong những nội dung được Chính phủ Việt Nam hết sức quan tâm thông qua các văn bản của nhà nước, các đề án, dự án ứng dụng CNTT trên phạm vi toàn quốc. Nhờ đó, ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước từng bước được cải thiện, góp phần tích cực cho sự phát triển chung của kinh tế - xã hội Việt Nam, hình thành cơ sở quan trọng cho việc xây dựng CPĐT ở Việt Nam.

Phương pháp luận xếp hạng Chính phủ điện tử của Liên hiệp quốc

Chỉ số sẵn sàng CPĐT (e-Government readiness index) được tạo thành từ 03 chỉ số thành phần là: chỉ số Website, chỉ số hạ tầng viễn thông và chỉ số nhân lực. Mỗi chỉ số thành phần lại được tạo thành từ các chỉ tiêu cơ sở có trọng số khác nhau được trình bày dưới đây.

Chỉ số Website (Web Measure Index)

Chỉ số Website cho phép so sánh các quốc gia về khả năng cung cấp các dịch vụ hành chính công trực tuyến tới người dân. So với năm 2005, chỉ số Website năm 2008 của các quốc gia đều có giá trị lớn hơn, đồng nghĩa với việc các trang web đã được phát triển và hoàn thiện hơn so với trước. Tương tự như trong các báo cáo đánh giá CPĐT từ năm 2003 đến năm 2005, chỉ số Website năm 2008 cũng được xây dựng và đánh giá dựa trên mô hình 5 giai đoạn, tương ứng với các mức độ hoàn chỉnh của các trang web của các quốc gia. Đó là các giai đoạn:

- Giai đoạn 1 - Xuất hiện

Thông tin trên các trang web của Chính phủ chủ yếu là các thông tin tĩnh, hầu như không có tương tác với người dân. Trên trang web có thể có các đường kết nối tới trang web của các Bộ, ngành, trang web của chính quyền địa phương.

- Giai đoạn 2 - Nâng cao

Chính phủ cung cấp thông tin rộng hơn, phong phú hơn về các chính sách công, về các quá trình ra quyết định của chính phủ. Ngoài ra, người dân còn có thể truy cập vào các thông tin lưu trữ như là: tài liệu, văn bản về chính sách, luật pháp, nghị định, tin tức.

- Giai đoạn 3 - Tương tác

Chính phủ cung cấp các dịch vụ trực tuyến như là các mẫu đơn cho phép tải về (ví dụ: mẫu đơn nộp thuế, hồ sơ cấp đổi bằng lái xe…). Một số trang web của Chính phủ được phát triển thành cổng điện tử tương tác để tăng tính thuận tiện cho người dân.

- Giai đoạn 4 - Giao dịch

Trang web ở giai đoạn này cho phép tương tác hai chiều giữa công dân và cơ quan Chính phủ, bao gồm các lựa chọn cho phép công dân đóng thuế xin cấp chứng minh nhân dân, giấy khai sinh, hộ chiếu, đổi bằng lái xe và các giao dịch công dân - chính phủ khác. Công dân có thể nộp hồ sơ trực tuyến 24h trong ngày và 7 ngày trong tuần. Mọi giao dịch được thực hiện trên mạng.

- Giai đoạn 5 - Kết nối

Là giai đoạn phát triển hoàn thiện nhất, phức tạp nhất của trang web Chính phủ. Ở giai đoạn này, các tương tác chính phủ - chính phủ, chính phủ - người dân và ngược lại được tích hợp với nhau. Các cơ quan Chính phủ xây dựng một hạ tầng thống nhất kết nối các quy trình liên cơ quan nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân. Các đặc trưng của giai đoạn này là: kết nối theo chiều ngang giữa các cơ quan Chính phủ, kết nối theo chiều dọc giữa cơ quan Trung ương với cơ quan địa phương, kết nối hạ tầng để đảm bảo tính liên thông, kết nối giữa người dân và Chính phủ và kết nối giữa các bên liên quan (gồm Chính phủ, khu vực tư, các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức phi Chính phủ và xã hội dân sự).

Để xác định chỉ số Website, nhóm nghiên cứu của Liên hiệp quốc sử dụng mẫu phiếu điều tra với các câu hỏi dạng Có/Không đối với các tính năng của trang web của các cơ quan Chính phủ. Với mỗi quốc gia, các trang web được sử dụng để đánh giá là trang web chính thức của Chính phủ (ở Việt nam Nhóm chuyên gia của Liên hợp quốc tập trung đánh giá trang web của Quốc hội) và trang web của một số Bộ. Với trang web của các Bộ ngành, để đảm bảo tính nhất quán trong việc đánh giá, nhóm nghiên cứu tiến hành đánh giá các tính năng tương tự của các trang web tương tự ở mỗi quốc gia. Các trang web được lựa chọn là các trang web của các Bộ ngành cung cấp các dịch vụ hành chính công được người dân sử dụng nhiều nhất, đó là trang web của các Bộ Y tế, Giáo dục, Phúc lợi xã hội, Lao động và Tài chính.

Chỉ số Website năm 2008 của Việt Nam được 0,4448 điểm (tối đa là 1), xếp hạng 63/192. Đây là bước tiến vượt bậc nếu so với thứ hạng về chỉ số Website của Việt Nam những năm trước.

Năm

2003

2004

2005

2008

Thứ hạng chỉ số Web của Việt Nam

98

122

113

63

Chỉ số hạ tầng viễn thông (Telecommunication Infrastructure Index)

Chỉ số hạ tầng viễn thông được tạo thành từ 5 chỉ tiêu cơ sở, liên quan đến năng lực hạ tầng của mỗi quốc gia và liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ CPĐT. Đó là các chỉ tiêu:

- Số người sử dụng Internet/100 dân

- Số máy tính/100 dân

- Số đường điện thoại cố định/100 dân

- Số điện thoại di động/100 dân

- Băng thông/100 dân

Các chỉ tiêu này có trọng số ngang nhau, do đó đều đóng góp 20% cho chỉ số hạ tầng viễn thông. Số liệu từng chỉ tiêu của mỗi quốc gia sẽ được chuẩn hóa trước khi đưa vào tính chỉ số hạ tầng viễn thông. Nguồn số liệu sử dụng là của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU).

Chỉ số hạ tầng viễn thông năm 2008 của Việt Nam được 0,108 điểm (tối đa là 1), xếp hạng 101/192. Đây cũng là bước tiến của chỉ số hạ tầng viễn thông Việt Nam so với những năm trước.

Năm

2003

2004

2005

2008

Thứ hạng chỉ số hạ tầng viễn thông của Việt Nam

113

123

121

101

Chỉ số nhân lực (Human Capital Index)

Chỉ số nhân lực được tạo thành từ 02 chỉ tiêu cơ sở là: tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ người học cấp 1, cấp 2, cấp 3, trong đó chỉ tiêu tỷ lệ người lớn biết chữ có trọng số là 2/3, chỉ tiêu về tỷ lệ người học cấp 1, 2, 3 có trọng số là 1/3. Số liệu về các chỉ tiêu này chủ yếu dựa trên các báo cáo của UNESCO và UNDP.

Chỉ số nhân lực năm 2008 của Việt Nam được 0,815 điểm (tối đa là 1), xếp hạng 103/192.

Năm

2003

2004

2005

2008

Thứ hạng chỉ số nhân lực của Việt Nam

79

91

95

103

Chỉ số về sự sẵn sàng CPĐT (e-Government Readiness Index)

Tổng hợp 3 chỉ số thành phần, năm 2008, chỉ số sẵn sàng CPĐT của Việt Nam đạt 0,4558 điểm (tối đa là 1), xếp hạng 91/192. Đây là thứ hạng cao nhất của Việt Nam từ khi Liên hiệp quốc xây dựng báo cáo đánh giá, xếp hạng CPĐT, trong khi nhiều nước ASEAN giảm bậc (xem bảng dưới đây).

STT

Tên nước

Thứ hạng

Thay đổi năm 2008 so với năm 2005

2008

2005

2004

2003

1.

Singapore

23

7

8

12

+16

2.

Malaysia

34

43

42

43

-9

3.

Thailand

62

46

50

56

+16

4.

Philippines

66

41

47

33

+25

5.

Brunei

87

73

63

55

+14

6.

Viet Nam

91

105

112

97

-14

7.

Indonesia

106

96

85

70

+10

8.

Cambodia

115

128

129

134

-13

9.

Myanmar

145

129

123

126

+16

10.

Đông Timor

155

144

174

169

+11

11.

Lao, P.D.R

156

147

144

149

+9

Một số điểm đáng chú ý về phương pháp luận và thứ hạng của Việt Nam

Qua phân tích ở phần trước, có thể thấy phương pháp luận đánh giá Chính phủ điện tử của Liên hiệp quốc sử dụng 03 chỉ số thành phần có vai trò ngang nhau, đó là: chỉ số về mức độ hoàn thiện của các trang web (hoặc là cổng thông tin điện tử) của Chính phủ và của một số Bộ của mỗi quốc gia, chỉ số về hạ tầng viễn thông của mỗi nước và chỉ số về nhân lực. Các chỉ số này đều là các chỉ số định lượng, các dữ liệu đều được cập nhật tại thời điểm 2007-2008 và được chuẩn hóa trước khi tính điểm, do đó có độ tin cậy.

Các chỉ số thành phần được đều là các chỉ số phức hợp, được tạo thành từ nhiều chỉ tiêu cơ sở. Mục tiêu của các chỉ số thành phần là nhằm phản ánh khả năng cung cấp và đáp ứng các nhu cầu sử dụng dịch vụ hành chính công của người dân trên mạng. Hầu hết các chỉ tiêu cơ sở là các chỉ tiêu khá đơn giản, có thể tính toán trực tiếp từ các số liệu điều tra, hoặc các số liệu thống kê về viễn thông ... do đó mang tính khách quan và có độ tin cậy.

Trong báo cáo năm 2008 của Liên hiệp quốc, Việt Nam đã có sự thăng hạng 14 bậc, từ hạng 105 năm 2005 lên hạng 91 năm 2008. Trong khi hầu hết các nước ở Đông Nam Á đều tụt hạng so với năm 2005 thì đây là một sự khích lệ lớn. Xét trên bình diện Đông Nam Á, Việt Nam tăng lên một bậc, từ hạng 7/11 lên hạng 6/11 (vượt qua Indonesia) và thu hẹp đáng kể khoảng cách với các nước có thứ hạng cao hơn.

Từ các điểm số của các chỉ số thành phần cho thấy, sự thăng hạng của Việt Nam trong báo cáo năm 2008 là nhờ sự thăng hạng của chỉ số hạ tầng viễn thông và đặc biệt là nhờ sự thăng hạng của chỉ số Website.

Chỉ số hạ tầng viễn thông Việt Nam tăng từ thứ 121 năm 2005 lên thứ 101 năm 2008, đó là nhờ tốc độ tăng trưởng rất nhanh của số thuê bao điện thoại cố định, số thuê bao điện thoại di động và số người sử dụng Internet. So với năm 2005, các chỉ tiêu tương ứng của năm 2008 tăng từ 0,052 lên 0,195 đối với số thuê bao cố định, 0, 0282 lên 0,117 đối với số thuê bao di động và từ 0,064 lên 0,194 đối với số người sử dụng Internet. Tuy nhiên, mật độ máy tính chỉ tăng chút ít, từ 0,012 lên 0,015.

Chỉ số Website của Việt Nam có bước nhảy vọt từ thứ 113 năm 2005 với 0,2231 điểm lên thứ 63 năm 2008 với 0,4448 điểm. Điều này có được là nhờ sự phát triển và hoàn thiện các trang web của Quốc hội, của các Bộ Y tế, Giáo dục, Tài chính, Lao động, Thương binh và Xã hội. Các tính năng được đánh giá cao trên các trang web bao gồm: có các thông tin lưu trữ, có các bản tin, có tính năng tìm kiếm thông tin, có kết nối tới các trang web Bộ, ngành, địa phương khác...

Ngoài ra, Việt Nam còn được đặc biệt đánh giá cao nhờ những tính năng mới bổ sung trên trang thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước (so với năm 2005), đó là những tính năng nhận ý kiến phản hồi của người dân về các chính sách, về dịch vụ hành chính công, tính năng cho phép người dân gửi ý kiến đóng góp, đề xuất đối với lãnh đạo các cơ quan nhà nước. Báo cáo Chính phủ điện tử 2008 của Liên hiệp quốc còn đánh giá cao việc Việt Nam có một cơ quan Chính phủ chịu trách nhiệm về mọi hoạt động liên quan đến CPĐT (Bộ Thông tin và Truyền thông), đảm bảo tính tương thích và tính liên thông giữa các Bộ, ngành.

Báo cáo CPĐT năm 2008 của Liên hiệp quốc cho thấy, ứng dụng CNTT ở Việt Nam trong thời gian qua, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ và các cơ quan chuyên môn, cùng với sự nỗ lực của cán bộ, công chức và toàn dân đã bước đầu cho những kết quả khả quan, thể hiện quan việc tăng hạng của hầu hết các chỉ tiêu cơ sở, từ đó góp phần cho việc tăng hạng chung của CPĐT Việt Nam.

Một số nội dung cần triển khai để nâng cao thứ hạng CPĐT và hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước ở Việt nam

Từ Báo cáo đánh giá CPĐT của Liên hiệp quốc cho thấy, để tiếp tục cải thiện vị trí trong bảng xếp hạng hàng năm và nâng cao mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước,Việt Nam cần triển khai một số nội dung sau:

Tiếp tục nâng cấp và hoàn thiện các trang thông tin điện tử của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương nhằm đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của người dân. Trước mắt, tất cả các trang thông tin điện tử cần được nâng cấp lên mức độ 3 (tương tác) với các mẫu đơn cho phép tải về, hướng tới việc tiếp tục hoàn thiện lên mức độ 4 và 5. Một số tính năng cần bổ sung, hoàn thiện như là: đấu thầu trực tuyến, theo dõi hồ sơ thủ tục hành chính trực tuyến, điền và gửi mẫu đơn trực tuyến...

Tiếp tục có các chính sách phù hợp để duy trì nhịp độ tăng trưởng của điện thoại cố định, điện thoại di động, Internet, tiếp tục mở rộng băng thông kết nối Internet, tạo ra nhu cầu sử dụng máy tính của người dân.

Duy trì và đẩy mạnh các Chương trình phổ cập giáo dục, nâng cao tỷ lệ người đi học ở Việt Nam nhằm làm tăng chỉ số nhân lực (là chỉ số mà Việt Nam có xu hướng đi xuống từ báo cáo năm 2003 đến báo cáo năm 2008 của Liên hiệp quốc).

Đánh giá chỉ số sẵn sàng Chính phủ điện tử của các cơ quan nhà nước. Theo Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Minh Hồng, trong quý I năm 2008, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ tiến hành đánh giá, xếp hạng mức độ ứng dụng CNTT tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo phương pháp luận của Liên hiệp quốc và một số tổ chức, cơ quan quốc tế về chỉ số sẵn sàng Chính phủ điện tử. Đây là một biện pháp kịp thời, hữu hiệu để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước nói riêng và trong toàn xã hội nói chung, góp phần nâng cao vị trí của Việt Nam trên “bản đồ Chính phủ điện tử” toàn cầu.


Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông
(Nguồn: Bộ TTTT)

     In    phản hồi    Lên đầu trang

Các tin đã đưa:
  • Việt Nam trong chiến lược “5 năm, 1 tỷ người” của Intel  (18-01-2008)
  • Đào tạo nhân lực CNTT: “Kéo” doanh nghiệp vào cuộc  (14-01-2008)
  • Năm 2015: Băng rộng đến mọi nhà  (10-01-2008)
  • Dồn lực để xây dựng CPĐT với tầm nhìn dài hạn  (10-01-2008)
  • Bộ TT&TT trả lời trực tuyến  (09-01-2008)
  • Bộ Thông Tin Truyền Thông vào cuộc  (08-01-2008)
  • Việt Nam tiến bộ nhảy vọt về chỉ số chính phủ điện tử  (07-01-2008)
  • 2008: Khi CNTT-TT đã ngấm…  (03-01-2008)
  • Trang chủ English Forum Liên lạc Sơ đồ
         
    Tài trợ chính Tài trợ đường truyền Tài trợ Server