| CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ DI ĐỘNG VIỆT NAM và Mô hình “ĐÔ THỊ INTERNET Thành phố HỒ CHÍ MINH” |
Nhân kỷ niệm đầy ý nghĩa này, chúng ta cần nhìn lại tình hình đã qua để đề xuất với Thành phố ta một công trình mới, làm động lực cho sự phát triển chung trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa.
1. Tình hình Công Nghệ Thông Tin – Viễn Thông (ICT) và Xu hướng phát triển Công nghệ Di động (công nghệ – truyền thông – internet – gọi tắt là TTI) trên thế giới và Việt Nam
1.1 Một số số liệu về tình hình thế giới có thể nêu lên như sau:
- Thị trường CNTT toàn cầu tăng trưởng 8% (2006)
Dịch vụ CNTT tăng trưởng 6% và đạt giá trị 624 tỷ USD (2005)
- Thị trường gia công IT 2004 là 100 tỷ USD, dự kiến 2010 là 200 tỷ USD
- 1 việc làm IT có thể tạo ra 21,3 việc làm cho các ngành khác
- Thị trường CNTT Châu Á TBD (không tính Nhật Bản) năm 2005 là 29,5 tỷ USD, riêng gia công là 9,6 tỷ USD
- Data Center toàn cầu đã tăng gấp đôi trong 3- 4 năm qua.
- Doanh số của ĐTDĐ là 19 tỷ (2005)
- Doanh số trên toàn cầu của DV tin nhắn là 50 tỷ USD (2005).
- Tải nhạc trên internet về ĐTDĐ gấp 3 lần (3 tỷ USD) tải về PC
- Người dùng di động tăng trưởng nhanh hơn người dùng PC
- Thiết bị cầm tay ngày càng giống computer
- Các ứng dụng và nội dung dành cho máy di động là động lực tăng trưởng của ngành:
Tốc độ tăng trưởng của các dịch vụ IT gồm:
Phần mềm 54%
Các ứng dụng 86%
Các nội dung 73%
Cổng dữ liệu 47%
Dự kiến Châu Á- TBD sẽ tạo nên sự tăng trưởng chính của thị trường di động trong 5 năm tới
*Internet di động đại diện vòng máy tính mới: Không như các vòng máy trước đây, bây giờ Mỹ là người theo sau, không phải người dẫn đầu: 89% người đăng ký di động, 93% người sử dụng mobile internet là ngoài thị trường Mỹ, trong đó TQ là số 1
Gần 2 tỷ ĐTDĐ toàn cầu sử dụng thì có 1 tỷ người dùng Internet (2005)
Doanh thu của những DV mobile Internet toàn cầu là 19 tỷ USD
1.2 Nước ta đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ về công nghệ thông tin – viễn thông và công nghệ di động. Sau đây là một số số liệu chứng minh:
- Thị trường CNTT VN năm 2006 đạt 1 tỷ 15 triệu USD, tăng 22.6% (gấp 3 lần tỷ lệ tăng trưởng của thế giới), trong đó phần cứng tăng 15.8%, phần mềm/dịch vụ tăng 43.9%.
- Công nghiệp CNTT đạt 1.74 tỷ USD, tăng 22.1%,trong đó tốc độ tăng phần mềm/dịch vụ là 32%
- Năm 2006: Kim ngạch nhập khẩu tăng 13.9% , đạt 1 tỷ 412 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu tăng 18.3%, đạt 1 tỷ 233 triệu USD.
- Năm 2006, Việt Nam đạt 13 triệu người sử dụng Internet, vượt qua Thái lan. Năm 2007, Việt Nam phát triển Internet tăng 25%, đạt 16 triệu người, chiếm 20% dân số VN, đứng thứ 17 thế giới, thứ 6 trong khu vực châu Á
Đến tháng 5/2007, tổng số thuê bao Internet băng thông rộng là 753.000 thuê bao. Dung lượng kết nối Internet quốc tế tăng đều 150% /năm.
* TP. Hoà Chí Minh - một trung tâm ICT có tiềm năng lớn về Công Nghệ Di Động:
- Do lực lượng sản xuất phát triển
Đến 11-2007 có 6685 công ty CNTT (sản xuất phần cứng, phần mềm và dịch vụ ) ở TP. HCM.
Tổng số thuê bao điện thoại năm 2007 ước đạt 9,54 triệu thuê bao (1,6 triệu máy cố định, tăng 11,4%; 7,94 triệu máy di động, tăng 52,37%); ước đạt 143 máy/100 dân.
Hàng năm có khoảng 2.500 sinh viên học ICT, 1.700 SV ra trường.
- Do thị trường ICT ở thành phố phát triển
80 triệu USD xuất khẩu/ năm (17,5% cả nước)
320 triệu USD doanh thu phần cứng (23% cả nước)
Quy mô thị trường 825 triệu USD, tăng 25-30%/ năm
Công nghệ Di Động VN sẽ là thị trường phát triển nhanh thứ 2 thế giới sau Trung Quốc.
Công Nghệ Di Động là một trong số ít những ngành công nghiệp mà sự tăng trưởng vượt quá mức độ hiện thời của sự phát triển kinh tế, có nghĩa là số người sử dụng Internet ở VN nhiều hơn so Thái Lan trong khi GDP đầu người Thái Lan còn cao hơn đáng kể so VN.
Công nghiệp Công Nghệ Di Động có thể biến VN thành một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu và thay thế dần nền sản xuất thâm dụng lao động giá rẻ bằng nền công nghiệp dịch vụ giá trị gia tăng cao.
Công Nghệ Di Động đem lại cho VN cơ hội hiếm có để trở thành một đối thủ cạnh tranh toàn cầu vì Công Nghệ Di Động chưa bị chi phối bởi một số ít các đối thủ lớn và vì VN có dân số trẻ và có kiến thức IT cao tương đương với những quốc gia mới nổi khác.
2. Trước tình hình nêu trên và triển vọng thúc đẩy phát triển nền kinh tế, chúng tôi đề nghị xây dựng một mô hình đô thị Internet tại TP. Hồ Chí Minh.
* Mục tiêu xây dựng “ Đô thị Internet TP. Hồ Chí Minh” là:
- Xây dựng một Khu Công nghệ cao chuyên ngành Công Nghệ Di Động (Công nghệ-Truyền thông-Internet - TTI) có hạ tầng cơ sở hiện đại kết nối trong nước và thế giới, có đủ điều kiện chuẩn quốc tế cho hoạt động của các công ty & tổ chức toàn cầu.
- Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và trong nước trong lĩnh vực công nghiệp nội dung số, sản xuất và gia công phần mềm,cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng, thương mại điện tử, giáo dục từ xa, hội chợ công nghệ…
- Hình thành một không gian tri thức để sáng tạo, giao lưu, trao đổi, chuyển giao công nghệ và Ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp CNC.
* Địa điểm đề nghị là chuyển toàn bộ Cảng Sài Gòn sau khi di dời để thành lập đô thị Internet.
MÔ HÌNH ĐÔ THỊ INTERNET TẠI CẢNG SÀI GÒN
3. Mô hình Đô thị Internet tại Thành phố Hồ Chí Minh trước hết sẽ có các phân khu chức năng như sau:
- Khu sản xuất và nghiên cứu CNTT – Viễn thông: Sản xuất phần mềm - Công nghiệp nội dung số - Thiết kế IC và Dịch vụ Internet.
- Khu Hội nghị quốc tế - Triễn lãm – Hội chợ công nghệ và sản phẩm CNC – Chuyển giao công nghệ - Vườn ươm công nghệ.
- Trung tâm thương mại – Du lịch – Cảng du thuyền – Giải trí – Khách sạn – Nhà ở chuyên gia.
- Khu Trung tâm – Tài chính – Ngân hàng – Truyền thông – Dịch vụ hàng hải.
- Khu Quản lý điều hành – Cơ sở dữ liệu – Kỹ thuật phụ trợ.
Để kết luận chúng ta cần sự nhất trí rộng rãi rằng:
- Xu hướng phát triển kinh tế nhanh và bền vững của thế giới và nước ta chứng tỏ chủ trương phát triển ICT và Công Nghệ Di Động cần được xác định là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược kinh tế nước ta đến năm 2020.
- Việc xây dựng “Mô hình Đô thị Internet” tại vị trí trung tâm thành phố thể hiện đúng đắn quan điểm chuyển thành phố Sài Gòn trung tâm công nghiệp và thương cảng Sài Gòn lớn nhất nước ta trong lịch sử trở thành biểu tượng của thành phố Hồ chí Minh trung tâm khoa học công nghệ và trung tâm giao lưu kinh tế quốc tế, tiếp tục tôn vinh “Hòn ngọc Viễn đông”, đặc biệt là tôn vinh di tích lịch sử Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.
- Mô hình Đô thị Internet TP. Hồ Chí Minh sẽ đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội vượt trội:
Hình thành lực lượng sản xuất mới.
Tạo thị trường mới.
Hội nhập toàn cầu.
Thu hút FDI và quỹ đầu tư mạo hiểm.
Doanh thu và kim ngạch góp phần tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Siêu lợi nhuận.
- Hội Tin học Thành phố có vai trò to lớn trong việc động viên lực lượng các nhà khoa học, các Viện Trường cùng doanh nghiệp công nghệ thông tin – viễn thông nổ lực xây dựng đô thị Internet Thành phố Hồ Chí Minh thành động lực mạnh mẽ và hiệu quả cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
Phạm Chánh Trực
Nguyên Trưởng ban Ban Quản lý KCNC TP HCM
11/2008
|
|







