| Tổng hợp Hội thảo "Gia công xuất khẩu phần mềm Việt Nam 2007" |

Đây là lần đầu tiên Hội thảo về Gia công xuất khẩu phần mềm (GCXKPM) được tổ chức tại Việt Nam. Mục tiêu của Hội thảo nhằm giới thiệu hiện trạng, định hướng phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam; trao đổi về các khả năng, cơ hội hợp tác và đầu tư trong lĩnh vực GCXKPM; chia sẻ kinh nghiệm GCXKPM của các doanh nghiệp như: FPT, TMA, FCG Vietnam (PSV), Sáng Tạo, UK Brain...; Hội thảo cũng là cơ hội để quảng bá hình ảnh Việt Nam với bạn bè quốc tế về môi trường đầu tư, năng lực, cơ hội và thị trường, chia sẻ kinh nghiệm của các quốc gia thành công như: Ấn Độ, Israel... trong lĩnh vực này.
Bên cạnh đó, Hội thảo còn là nơi để các doanh nghiệp CNTT trong và ngoài nước cùng trao đổi, thảo luận và tìm kiếm các cơ hội hợp tác. Đây cũng là kênh thông tin quan trọng để các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước kiến nghị, đề xuất với cơ quan quản lý nhà nước các cơ chế, chính sách, giải pháp nhằm thúc đẩy lĩnh vực GCXKPM Việt Nam và ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam nói chung.
Sau đây là một số nội dung chính của các phát biểu và trao đổi trong Hội thảo:
GS.TSKH Đỗ Trung Tá – Bộ Trưởng MPT:
"Hội thảo Gia công xuất khẩu phần mềm VN 2007 là một bước quan trọng trong việc hiện thực hóa Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm Việt nam đến năm 2010. Đây là lần lầu tiên Hội thảo này được Bộ Bưu Chính, Viễn thông tổ chức với sự tham gia của hầu hết các doanh nghiệp mạnh về sản xuất phần mềm trong nước và nước ngoài đóng tại Việt nam, đặc biệt Hội thảo được tổ chức lần đầu tiên ngay tại TP. Hồ chí Minh - thành phố dẫn đầu cả nước về công nghiệp phần mềm.
Hy vọng qua hội thảo này, chúng ta có thể nhìn thấy một bức tranh tổng thể về định hướng phát triển công nghiệp phần mềm Việt nam, cũng như những cơ hội, thách thức và nhất là những giải pháp nhằm đưa Việt nam trở thành một trung tâm gia công xuất khẩu dịch vụ CNTT tầm cỡ trong khu vực và trên thế giới...
Lãnh đạo Bộ Bưu chính, Viễn thông mong muốn được nghe những kiến nghị, đề xuất của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước về các vướng mắc cần tháo gỡ, các cơ chế, chính sách, giải pháp cần triển khai nhằm tạo điều kiện tối đa cho ngành công nghiệp phần mềm phát triển đúng với tiềm năng của đất nước và con người Việt Nam..."
Ông KENJI Yoshioka - Giám đốc điều hành JETRO Tp Hồ Chí Minh
"Doanh nghiệp Nhật Bản đã bắt đầu để ý đến Việt Nam như là một nơi gia công sau Trung Quốc và Ấn Độ, thực tế là việc đầu tư vào Việt Nam của các doanh nghiệp IT của Nhật rất đáng kể. Hiện tại ước đoán có hơn vài chục doanh nghiệp IT của Nhật đang vào làm ăn. Căn cứ theo tình hình này vào tháng 4 năm nay, Hiệp Hội Doanh Nghiệp Nhật Bản tại TP. HCM đã thành lập nên Ban IT với 25 công ty tham gia là thành viên. Ngoài ra, chính phủ Nhật Bản cũng sẽ dùng tiền từ quỹ ODA để giúp xây dựng khoa đào tạo nhân tài về công nghệ thông tin cho trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, hợp tác một cách tích cực vào lãnh vực IT.
Tuy nhiên ở một phương diện khác, nhiều doanh nghiệp IT của Nhật đang vào đầu tư như trên vẫn còn gặp các vấn đề khó khăn như thiếu nguồn nhân tài về IT cũng như việc đào tạo, trang bị cơ sở hạ tầng, các vấn đề về vi phạm bản quyền phần mềm..."
Ông Nguyễn Trọng Đường - Phó Vụ trưởng Vụ CNp CNTT – MPT.
"Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành các Quyết định về phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm và Chương trình phát triển công nghiệp nội dung số đến năm 2010, theo đó:
- Quan điểm phát triển CNPM trong giai đoạn tới là tập trung vào gia công phần mềm và dịch vụ.
- Đảm bảo tốc độ phát triển trung bình CNPM đạt 35 - 40%/năm, đến 2010 Việt nam có 10 doanh nghiệp trên 1.000 người, 200 doanh nghiệp trên 100 người, với nguồn nhân lực khoảng 60.000, doanh thu hàng năm đạt 800 triệu USD, được xếp vào Top 15 nước hấp dẫn nhất về gia công phần mềm và dịch vụ.
- Công nghiệp nội dung số có tốc độ phát triển trung bình 35 - 40%/ năm, đến năm 2010 có khoảng 10 - 20 doanh nghiệp nội dung số có trên 500 lao động, doanh thu đạt 400 - 500 triệu USD/ năm, làm chủ công nghệ để sản xuất được một số sản phẩm trọng điểm. .." Ngài Effie Ben Matityaut - Đại sứ Israel tại Việt Nam:
" Câu hỏi trị giá 1.000.000 USD: Israel làm gì để trở thành quốc gia hàng đầu thế giới về công nghệ cao?
Israel có tỷ lệ kỹ sư và nhà khoa học/ người lao động cao nhất thế giới: 85/10.000. Trong khi những con số tương ứng ở Mỹ là: 82; Nhật: 80; Đức: 60 và Hàn quốc: 25.
Những yếu tố để công nghệ cao phát triển ở Israel:
- Nguồn nhân lực
- Vườn ươm công nghệ cao
- Hợp tác song phương với Hoa Kỳ và Châu Âu về khoa học công nghệ
- Nâng cấp và đầu tư các trường ĐH và Viện nghiên cứu
- Mở cửa thị trường
- Chính phủ có chính sách khuyến khích đầu tư
- Chính phủ hình thành nên các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hợp tác song phương
- Chính phủ tài trợ về xúc tiến thương mại..."
Ông Venkat KD - P. Chủ tịch Công ty Satyam - Ấn Độ:
" Lĩnh vực IT-BPO của Ấn độ tăng trưởng 28%; ngành công nghiệp tích hợp đạt 47,8 tỷ USD tạo việc làm cho hơn 1,6 triệu người trong năm 2007. Xuất khẩu
Bốn nhân tố thành công của lĩnh vực IT-ITES của Ấn Độ:
1. Công nghệ quy trình: Áp dụng quy trình chất lượng IT-ITES, CMMI…
2. Thực nghiệm:
a. Tập trung vào an toàn dữ liệu và bảo vệ thông tin
b. Khung pháp lý hoàn thiện
c. Xây dựng các thực hành về an toàn bảo mật:
- Ít nhất 5-15% ngân sách CNTT được giành cho an toàn bảo mật; các đội chuyên trách an toàn bảo mật
- Tương thích với các chuẩn và luật quốc tế; các chính sách an toàn thông tin
- Kiểm duyệt an toan thông thường – bên trong cũng như bên ngoài (independent and by client)
- Đào tạo định kỳ cho nhân viên về an toàn bảo mật
- Thắt chặt an toàn vật lý, sao lưu dữ liệu/ phục hồi dữ liệu
3. Chính sách:
a.Thiết lập các trung tâm xúc tiến xuất khẩu / các khu vực kinh tế đặc biệt
b. Ưu đãi về tài chính
- Miễn thuế thu nhập và đánh thuế ngày nghỉ theo các Khoản 10A/10B
- Miễn thuế dịch vụ
- Giảm thuế cho các mặt hàng tiêu dùng nội địa
- Giảm bớt các quy tắc, điều lệ đối với các giao dịch với nước ngoài
c. Hỗ trợ tích cực bởi Chính phủ
- Miễn giảm trong việc tuyển dụng
- Chế độ một cửa
d. Các chính sách thúc đẩy khác
- Tập trung vào e-Governance
- Thúc đẩy đào tạo nhân lực CNTT
4. Con người ..."Ông An Thế Dũng - Cục Phó Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Thương mại):
"Quan điểm và nguyên tắc cần thiết trong việc đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu cho ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam:
Thứ 1, xúc tiến thương mại cho ngành công nghiệp phần mềm phải xuất phát từ việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành
Thứ 2, hoàn thiện thể chế hỗ trợ phát triển thị trường phần mềm trong đó nhà nước đóng vai trò tiên phong và hình mẫu trong việc cung ứng dịch vụ công từ ứng dụng giải pháp công nghệ phần mềm và công nghệ nội dung số
Thứ 3, nâng cao ý thức và nhận thức của cộng đồng về hình ảnh ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam
Thứ 4, xây dựng thương hiệu của ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam phải tạo ra được bản sắc riêng và đặc trưng tiêu biểu của ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam
Thứ 5, xây dựng thương hiệu ngành công nghiệp phần mềm là phải tạo ra các liên tưởng tích cực đồng thời giảm thiểu các liên tưởng tiêu cực gắn với hình ảnh ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam..."
Ông Hoàng Lê Minh - Phó GĐ Sở Bưu chính Viễn thông TP.HCM:
"Dự báo triển vọng cho phát triển hoạt động gia công, xuất khẩu phần mềm của các doanh nghiệp IT Việt nam:
1. Thị trường trong nước tiếp tục phát triển cùng với thị trường xuất khẩu phần mềm, trong đó thị trường trong nước sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng, là sân chơi tập dượt cho các daonh nghiệp trẻ, mới thành lập trước khi ra “biển lớn” (xuất khẩu phần mềm và dịch vụ)
2. Xu hướng mua và sát nhập doanh nghiệp để hình thành nên những tập đoàn CNTT đa ngành, đa lĩnh vực, đa thị trường, trong đó bên cạnh hoạt động sản xuất và gia công phần mềm, sẽ có cả lĩnh vực thiết kế, chế tạo phần cứng, cung ứng dịch vụ, sản xuất nội dung số đang bắt đầu diễn ra.
3. Đối với một số tập đoàn CNTT nội địa có tiềm năng phát triển lớn, đã và đang lên “sàn” như FPT, CMC, xu hướng chuyên môn hoá và đa dạng hoá các hoạt động trở nên quan trọng. Gia công xuất khẩu phần mềm hiện là một lĩnh vực trọng yếu, nhưng nếu chỉ định hướng phát triển hoạt động này mà không quan tâm đến thị trường trong nước, đến việc xây dựng tiềm lực về con người và làm chủ các công nghệ tiên tiến, xây dựng chiến lược thị trường và áp dụng các phương pháp quản lý hiệu quả, thì sự tăng trưởng về phần mềm chỉ trong một lĩnh vực xuất khẩu cũng sẽ chỉ là xu thế tạm thời..."Ông Phạm Tấn Công - Tổng thư ký VINASA:
"Tầm nhìn của Vinasa:
1. Đưa Việt Nam trở thành địa chỉ hàng đầu Outsourcing quốc tế và trung tâm đào tạo, cung cấp nhân lực phần mềm của thế giới
2. Mục tiêu thị trường và sản phẩm:
Thị trường : Nhật. Mỹ. EU.
Sản phẩm trọng điểm:
Gia công sản xuất, gia công dịch vụ, BPO, cung ứng nhân lực phần mềm,…
320M USD xuất khẩu 2010, TOPTEN gia công phần mềm thế giới vào 2012, TOPTEN cung ứng nhân lực vào năm 2015..."
TS. Lê Trường Tùng - Chủ tịch HCA, Hiệu trưởng Đại học FPT:
"Kỷ nguyên mới, Hướng tiếp cận giáo dục mới:
- Hướng theo nhu cầu của ngành công nghiệp, thay đổi cơ bản đang diễn ra tại nhiều cơ sở đào tạo
- Nhiều cơ sở đào tạo đang điều chỉnh chương trình của họ để đáp ứng nhu cầu của môi trường công nghiệp:
1.Chuyển đổi từ học tập cá nhân sang học tập nhóm.
2. Chuyển đổi từ lý thuyết sang thực hành.
3. Chuyển đổi từ hệ thống độc lập sang hệ thống tích hợp.
4. Chuyển đổi từ tính toán cá nhân sang tính toán mạng..."Ông. S T Kulkarni – GĐ TT Cung cấp Dịch vụ Toàn cầu IBM tại VN:
"Dựa trên MOU ký giữa Bộ KHCN một tổ công tác được thành lập:
- Để thúc đẩy hợp tác giữa các viện nghiên cứu trong khu vực;
- Để thành lập tổ công tác gồm IBM và các Bộ, ngành (BCVT, KHCN, GD ĐT) nhằm hướng dẫn triển khai các dự án trong khuôn khổ MOU.
- Để xây dựng định hướng cho các Đại học quốc lập hỗ trợ về phát triển kỹ năng tập trung vào SSME
- Thành lập một số Trung tâm xuất sắc - Innovation Centre of Excellence.
- Tham gia và hỗ trợ các dự án do World bank tài trợ như một đối tác tin cậy..."Ông Fujiwara Shigeru - Chủ tịch UK Brain, Giám đốc Unico VN:
"Chuẩn bị môi trường gia công phần mềm:
Thực tế hiện nay còn tồn tại rất nhiều vấn đề gây trở ngại cho quá trình thực hiện dự án phát triển CNTT. Để loại bỏ được những vấn đề này, chúng tôi rất mong hai phía Việt Nam cũng như Nhật Bản sẽ sớm đưa ra những giải pháp phù hợp nhất trong những vấn đề tiêu biểu sau:
a. Thời hạn lưu trú không cần thị thực visa:
Do đặc trưng của lĩnh vực gia công và phát triển phần mềm, nên một khi gặp vấn đề phát sinh ngoài ý muốn, việc lưu trú dài hạn để giải quyết vần đề là chuyện không thể tránh khỏi. Thế nhưng hiện nay, thời hạn lưu trú dành cho đối tượng là khách du lịch đến từ Nhật Bản bị hạn chế trong vòng 15 ngày hết sức ngắn ngủi. Điều này trên thực tế đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc phái cử các kỹ sư từ Nhật sang Việt Nam phối hợp thực hiện dự án. Bởi vậy chúng tôi rất mong thời hạn đó được kéo dài thành ít nhất là 3 tháng.
b. Nới lỏng điều kiện làm việc tại Nhật Bản:
Việc nhập cảnh vào Nhật hiện nay có giới hạn đối với các lập trình viên hệ cao đẳng và các trường dạy nghề (như APTECH, NIIT) nên chúng tôi mong rằng, đối với những lập trình viên có liên quan đến “Chương trình phát triển Công nghiệp Phần mềm VN” thì sẽ được nới lỏng về vấn đề tự do xuất nhập cảnh. Đặc biệt chúng tôi muốn các nhân viên của công ty (bao gồm cả những nhân viên phái cử làm việc tại công ty) phía Việt Nam có thể được phép đến Nhật làm việc.
c. Nới lỏng tỷ lệ nhân viên người Nhật ở Việt Nam:
Hiện nay tại Việt Nam còn tồn tại một quy định gây trở ngại lớn cho việc chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, lập trình viên cũng như quản lý dự án (bao gồm cả người lãnh đạo) là trong các doanh nghiệp tại Việt Nam, tỷ lệ nhân viên người Nhật không được vượt quá con số 10%. Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc chỉ đạo thực hiện các dự án đòi hỏi các PM, PL, SE, PG người Nhật sẽ phải đến Việt Nam với số lượng lớn, điều này là không thể được trong tình hình hiện nay, trong khi đó thì việc chỉ đối ứng ở phía bên Nhật dẫn đến tình trạng không kịp tiến độ dự án. Vấn đề này chúng tôi đề cập thêm trong “Chương trình phát triển Công nghiệp Phần mềm VN” như là một chính sách hỗ trợ.
d. Cho phép thành lập các trung tâm đào tạo với nguồn vốn nước ngoài:
Để đạt được mục tiêu của “Chương trình phát triển Công nghiệp Phần mềm VN”, chúng tôi rất mong nhận được sự cho phép thực hiện việc đào tạo chuyên môn CNTT cũng như tiếng Nhật cao cấp tại các doanh nghiệp tư nhân..."
Ông Hironori Hashimoto – GĐ CS.Factory, Hiệp hội DN Nhật Bản tại TP.HCM:
"Những vấn đề cần quan tâm khi hợp tác với đối tác Nhật Bản:
Chất lượng:
- CMMI, ISO là một phần quan trọng việc kiểm tra sản phẩm ở các giai đoạn, cấp độ, vị trí còn quan trọng hơn.
- Vấn đề giao tiếp (Q&A) cũng rất quan trọng. Nếu nhân viên của bạn không hiểu cần phải xác nhận lại đối tác Nhật chứ không được tự quyết định theo ý mình.
Công nghệ
- Luôn cập nhật các công nghệ mới nhất có thể đáp ứng được yêu cầu của các công ty Nhật Bản.
- Tích lũy các kinh nghiệm để có thể áp dụng cho cả quy trình cấp cao và cấp thấp
Nắm được các phương pháp làm việc và thiết kế…
Kỹ năng giao tiếp
- Giao tiếp tiếng Nhật là tốt nhất. Ít nhất các kỹ sư phải giao tiếp được bằng tiếng Anh.
- Tiến hành đào tạo tiếng Nhật cho nhân viên dựa trên nhu cầu và nội dung liên quan tới công việc nếu cần
- Trình độ ngôn ngữ tiếng Nhật: cấp 3 không đủ để đáp ứng yêu cầu hợp tác kinh doanh
Sự tin cậy:
- Các công ty Nhật luôn mong muốn hợp tác dài lâu.
- Công ty cần phải có biện pháp chăm sóc các nhân viên đã được đào tạo..."Ông Michael Mudd - Giám đốc Bộ phận Chính sách công, Khu vực Châu Á Thái Bình Dương CompTIA:
“ - Các chính sách của Chính phủ cần phải công bằng đối với cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm khuyến khích đầu tư từ đó sẽ dẫn đến việc chuyển giao kỹ năng ngược lại
- Cạnh tranh trong viễn thông nhằm giảm giá cho các trung tâm chấp nhận VOIP như là một dịch vụ
- Thực thi bảo vệ bản quyền SHTT – yêu cầu thiết yếu cho gia công, xuất khẩu phần mềm
- Chấp nhận các chuẩn công nghiệp toàn cầu là yêu cầu sống còn để đảm bảo tính kết nối...”
Ông Dan Woodward – Phó Chủ tịch Cao cấp Product Delivery BakBone:
“Những yếu tố khi BakBone xem xét khi tìm kiếm đối tác và địa điểm đầu tư:
- Xem xét các chương trình và chính sách cung ứng nguồn nhân lực
- Doanh nghiệp ổn định với khả năng thuần thục cộng với các quy trình mềm dẻo
- Chi phí hợp lý – chất lượng cao
- Khả năng giao tiếp, trao đổi thông tin tốt
- Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
- Hạ tầng
- An toàn, bảo mật
- Bảo vệ bản quyền, sở hứu trí tuệ
- Hỗ trợ của địa phương và quốc gia
- Hệ thống giáo dục
- Nguồn lực sẵn có
- Khả năng cạnh tranh toàn cầu...”
Kết thúc Hội thảo Ông Nguyễn Minh Hồng – Thứ trưởng MPT đánh giá cao những ý kiến đóng góp của doanh nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước... đây là một trong những nguồn tư liệu quan trọng để MPT đưa ra những chính sách phù hợp, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc và thực hiện thành công mục tiêu Quyết định 51/2007/QĐ-TTg mà Chính phủ đã phê duyệt ngày 12/04/2007.
Một số hình ảnh Hội thảo Gia công Xuất Khẩu Phần mềm Việt Nam 2007
Báo chí viết về Hội thảo "Gia công xuất khẩu phần mềm Việt Nam 2007":
http://www.sggp.org.vn/kinhte/2007/6/104404/
/tin_tuc/hd_hoi/nam2007/thang6/outsourcing/lamgidedatmuctieu
http://www.vnagency.com.vn/TrangChu/VN/tabid/58/itemid/199471/Default.aspx
http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?article=96506&sub=76&top=41
http://www.sgtt.com.vn/web/tintuc/default.aspx?cat_id=600&news_id=22708
(Nguồn: MPT & HCA)
|
|
|
|
| Các tin đã đưa: |
|
|
|
|








