Trang chủ English Forum Liên lạc Sơ đồ Tìm kiếm:
    Giới thiệu Kiên Giang
    Giới thiệu Hội thảo
    Tham luận
    Giới thiệu sp & Giải pháp
    Sơ đồ gian hàng
    Báo chí với Hội thảo
    Danh sách tham dự
    Đơn vị tài trợ
    Tin tức sự kiện
    Phiếu đăng ký
    Thư mục ảnh
    Các hội thảo khác
 
 
Tổng quan về Kiên Giang

   Sông nước Kiên Giang  

Tổng quan về Kiên Giang

Hình Kiên Giang

  Kiên Giang là tỉnh cực Tây Nam của Tổ quốc, nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Như là một Việt Nam thu nhỏ, được thiên nhiên ưu đãi, phú cho Kiên Giang đủ cả: sông nước, núi rừng, đồng bằng và biển cả.
  Tỉnh Kiên giang nằm ở toạ độ từ 104040’ đến 105032’40” kinh độ Đông và 9023’50’’ đến 10032’30” vĩ độ Bắc (phần đất liền). Phía Đông và Đông Nam giáp các tỉnh Cần Thơ, An Giang, phía Nam giáp tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, phía Tây giáp Vịnh Thái Lan với bờ biển dài 200 km và phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới đất liền dài 56,8 km. Địa hình phần đất liền tương đối bằng phẳng có hướng thấp dần từ hướng phía đông bắc (độ cao trung bình từ 0,8-1,2 m) xuống Tây Nam (độ cao trung bình từ 0,2-0,4 m) so với mặt biển, đồng thời tạo nhiều kinh rạch, sông ngòi. Đặc điểm địa hình này cùng với chế độ thủy triều biển Tây chi phối rất lớn khả năng tiêu úng về mùa mưa và bị ảnh hưởng lớn của mặn vào các tháng mùa khô. Vùng biển có hai huyện đảo với hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ. Từ những đặc điếm trên đã gây trở ngại tới sản xuất và đời sống của nhân dân trong tỉnh.
  Tuy nhiên do điều kiện khí hậu thời tiết ở Kiên Giang có những thuận lợi cơ bản: ít thiên tai, không có bão đổ bộ trực tiếp, không rét (nhiệt độ trung bình hàng năm từ 27-27,50C) ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào rất thuận lợi cho cây trồng vật nuôi sinh trưởng. Đồng thời với vị trí địa lý của tỉnh cũng rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế mở cửa, hướng ngoại do có cảng biển, sân bay và có khoảng cách tới các nước ASEAN tương đối ngắn - là khu vực đang có nhịp độ tăng trưởng kinh tế vào loại cao nhất thế giới.
  Tài Nguyên Đất và Nước
- Đến năm 2001 tổng diện tích đất tự nhiên 629.905 ha, trong đó đất nông nghiệp 411.974 ha chiếm 65,72% đất tự nhiên, riêng đất lúa 317.019 ha chiếm 76,95% đất nông nghiệp, bình quân một hộ hơn 1 ha đất trồng lúa. Đất lâm nghiệp có 120.027 ha chiếm 19,15% diện tích đất tự nhiên. Đồng thời toàn tỉnh còn quĩ đất chưa sử dụng gần 50.000 ha. Nhìn chung đất đai ở Kiên Giang phù hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
- Nguồn nước mặt khá dồi dào, nhưng đến mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 7) phần lớn nước mặt của tỉnh đều bị nhiễm phèn mặn, do là một tỉnh ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu, nhưng lại là tỉnh ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá. Toàn tỉnh có 3 con sông chảy qua: Sông Cái Lớn (60 km), sông Cái Bé (70 km) và sông Giang Thành (27,5 km) chủ yếu để tiêu nước về mùa lũ và giao thông đi lại, đồng thời có tác dụng tưới nước vào mùa khô ở một số vùng như huyện Tân Hiệp, Giồng Riềng, Châu Thành, một phần Hà Tiên, Kiên Lương, Hòn Đất, Gò Quao… Ngoài ra tỉnh có hệ thống kênh rạch, những kênh rạch này có nhiệm vụ tiêu úng, sổ phèn, giao thông đi lại, bố trí dân cư đồng thời có tác dụng dẫn nước ngọt từ sông Hậu về vào mùa khô phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
- Nguồn nước ngầm: Theo điều tra của Liên đoàn địa chất 8, tỉnh Kiên Giang có 7 phức hệ chứa nước, trong đó chỉ có phức hệ chứa nước pleiston xen (QI- III) là đối tượng trực tiếp cung cấp nước cho sinh hoạt và ăn uống gồm các huyện An Biên, Vĩnh Thuận, Gò Quao, một phần huyện An Minh giáp với An Biên, một phần huyện Giồng Riềng giáp với Châu Thành và một phần của huyện Tân Hiệp.
 Tài Nguyên Thủy Sản
 Kiên Giang là tỉnh có nguồn lợi thủy sản đa dạng, phong phú bao gồm: tôm, cá các loại và có nhiều đặc sản quí như: Đồi mồi, hải sâm, sò huyết, nghêu lụa, rau câu, ngọc trai, mực, bào ngư…
- Nguồn lợi biển: Kiên Giang có 200 km bờ biển với ngư trường khai thác thủy sản rộng 63.000km2. Theo điều tra của Viện nghiên cứu biển Việt Nam thì trữ lượng tôm cá ở đây khoảng 464.660 tấn trong đó vùng ven bờ có độ sâu 20-50 m có trữ lượng chiếm 56% và trữ lượng cá tôm ở tầng nổi chiếm 51,5%, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng, tức là hàng năm có thể khai thác trên 200.000 tấn. Ngoài ra tỉnh đã và đang thực hiện dự án đánh bắt xa bờ tại vùng biển Đông Nam bộ có trữ lượng trên 611.000 tấn với sản lượng cho phép khai thác 243.660 tấn chiếm 40% trữ lượng.

 - Nguồn lợi thủy sản nội địa:
+ Kiên Giang có khả năng nuôi cá với diện tích 50.000 ha, trong đó 16.000 ha kết hợp giữa cá và cây lúa, 34.000 ha nuôi cá kết hợp với rừng tràm, hàng năm có thể cho sản lượng 25.000-28.000 tấn.
+ Nuôi tôm nước lợ ven biển có diện tích từ 5.000-6.000 ha với sản lượng đạt từ 1.000-2000 tấn. Nếu được đầu tư kỹ thuật con giống tốt có khả năng sản lượng sẽ là 4.000-5.000 tấn.
+ Nuôi đồi mồi tập trung ở Phú Quốc và Thị xã Hà Tiên có thể nuôi và xuất từ 2.000-4.000 con.
+ Ngoài ra còn nuôi sò huyết chủ yếu có truyền thống nuôi ở 2 huyện An Biên, An Minh với diện tích có thể mở rộng đến 2400 ha, đạt sản lượng 14.000 tấn…

 Tài Nguyên Khoáng Sản
 
 Có thể nói Kiên Giang là tỉnh có nguồn khoáng sản dồi dào bậc nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Qua thăm dò điều tra địa chất tuy chưa đầy đủ nhưng đã xác định được 152 điểm quặng và mỏ của 23 loại khoáng sản thuộc các nhóm như: Nhóm nhiên liệu (than bùn), nhóm không kim loại (đá vôi, đá xây dựng, đất sét…), nhóm kim loại (sắt, Laterit sắt…), nhóm đá bán quý (huyền thạch anh - opal…),trong đó chiếm chủ yếu là khoáng sản không kim loại dùng sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng. Riêng về đá vôi có hơn 20 ngọn núi với trữ lượng khoảng hơn 440 triệu tấn, có một số núi đá vôi cần giữ lại di tích lịch sử, thắng cảnh và yêu cầu quân sự, nên trữ lượng để dùng cho sản xuất vật liệu xây dựng là hơn 245 triệu tấn, với nguyên liệu này đủ để sản xuất 2,8-3 triệu tấn Clinker/năm trong thời gian trên 50 năm. nguồn lợi khoáng sản trên sẽ sản xuất các loại sản phẩm như: xi măng, gạch ngói, gốm sứ, đá ốp lát, đá xây dựng, vôi; đá huyền, thạch anh làm đồ trang sức mỹ nghệ; cát làm thủy tinh; than bùn làm chất đốt, phân bón…

  Tiềm Năng Du Lịch
Kiên Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển du lịch so với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, bởi có nhiều địa danh thắng cảnh và địa danh di tích lịch sử nổi tiếng như: Hòn Chông, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, núi MoSo, bãi biển Mũi Nai,Thạch Động, Lăng Mạc Cửu, Đông Hồ, Hòn Đất, rừng U Minh đảo Phú Quốc… Đặc biệt nhiều người nói ở Việt Nam có lẽ sau Hạ Long là Hà Tiên, vì Hà Tiên không những khí hậu quanh năm không nóng, không lạnh, mà bởi có một “Hà Tiên thập vịnh” (vịnh 10 cảnh đẹp Hà Tiên), qua thơ ca của các tác giả tao đàn Chiêu Anh Các. Hà Tiên được thiên nhiên ưu đãi có nhiều núi non, hang động, chùa chiền, có nhiều hòn đảo gần xa. Ngoài ra du lịch lễ hội Nguyễn Trung Trực - vị anh hùng dân tộc vào cuối tháng 8 âm lịch cũng là thế mạnh của Kiên Giang với hơn 120.000 lượt khách trong vùng thăm viếng hàng năm. hướng tới Kiên Giang còn phát triển du lịch sinh thái của vùng U Minh lịch sử, có hương của rừng tràm và vườn chim thiên nhiên, với những món ăn đặc sản rừng U Minh … thật là hấp dẫn và thơ mộng.

 Tiềm Năng Về Nhân Lực:
- Năm 2002 dân số toàn tỉnh có 1.601.550 người gồm 3 dân tộc chính: Dân tộc Kinh chiếm 85,6%, dân tộc Khơme chiếm 12,19%, dân tộc Hoa chiếm 2,16%. Dân số thành thị chiếm 21,88% và dân dố nông thôn chiếm 78,12%. Với qui mô dân số đứng thứ 16 trong 61 tỉnh thành của cả nước và thứ 5 so với 12 tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long. Mật độ dân số của tỉnh năm 2000 là 248 người/km2 thuộc loại trung bình, thấp so với trong vùng (412 người/km2) và cao hơn bình quân cả nước (236 người/km2). Dân số của tỉnh phân bố không đều, thường tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sông ngòi và một số đảo.
  Nếu phấn đấu hạ tỷ lệ sinh hàng năm từ 0,5-0,6‰ giai đoạn 2001-2005 và giảm 0,4‰ giai đoạn 2006-2010 thì qui mô dân số toàn tỉnh đến 2005 là 1.689.745 người và đến năm 2010 hơn 1.834.000 người.
- Lao động trong độ tuổi có hơn 934.000 người chiếm 58,31% dân số, trong đó có khoảng 80% đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân (có 4,7% lực lượng lao động là công nhân viên chức). Lao động kỹ thuật còn rất thấp, Tổng điều tra dân số năm 1999 mới có 4,3% trong tổng số lao động. Đến 2010 số lao động trong độ tuổi tăng lên 1.100.000 người, như vậy Kiên Giang cần phải giải quyết việc làm cho trên 18 vạn lao động trong vòng 10 năm tới.
 Vị thế các huyện thị trong tỉnh
  Trong những năm đổi mới, các huyện thị đóng góp vào sự phát triển chung của tỉnh là hết sức quan trọng cả về nhân - tài - vật lực, với những thế mạnh riêng của từng địa phương. Tỉnh Kiên giang có 13 đơn vị hành chính huyện,thị xã:
 Thị Xã Rạch Giá: Nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh đồng thời cũng là trung tâm kinh tế văn hóa của Kiên Giang. Diện tích tự nhiên 97,74 km2,dân số trung bình năn 2002 là 199.896 người, mật độ dân số 2.045 người/km2. Với thế mạnh là công nghiệp, thương mại dịch vụ và thủy sản. Giá trị tăng thêm (GDP) của toàn thị xã năm 2001 chiếm 23,8% tổng GDP của tỉnh
 Thị Xã Hà Tiên: Mới thành lập năm 1998 trên cơ sở tách ra từ huyện hà tiên cũ. Diện tích tự nhiên 88,51 km2, dân số 39.957 người, mật độ dân số 451 người/km2. Thế mạnh là thương mại, du lịch và thủy sản. GDP năm 2001 chiếm 3,01% GDP toàn tỉnh. Mức độ đóng góp GDP còn nhỏ bé, song những năm tới thị xã Hà Tiên sẽ vươn lên mạnh mẽ với lợi thế được Chính phủ quyết định cho thực hiện qui chế: Khu kinh tế cửa khẩu.
    Thị Xã Hà Tiên: Được thành lập năm 1998 trên cơ sở tách ra từ huyện Hà Tiên cũ. Diện tích 895,48 km2, dân số 86.563 người, mật độ dân số 97 người/km2. Thế mạnh của huyện là công nghiệp (nhất là công nghiệp vật liệu xây dựng, có 5 nhà máy xi măng sản xuất trên 2 triệu tấn/năm và các cơ sở khai thác đá vôi, đá xây dựng với sản lượng 250.000 m3/năm), thủy sản (kể cả khai thác và nuôi trồng) và nông lâm nghiệp. GDP trên địa bàn huyện năm 2001 chiếm 16,4% GDP toàn tỉnh

    Huyện Hòn Đất: Diện tích tự nhiên 1.019,75 km2, dân số 146.605 người, mật độ dân số 144 người/km2. Sản xuất chủ yếu là nông lâm nghiệp và thủy sản. GDP năm 2001 chiếm 7,1% GDP toàn tỉnh
   Huyện Tân Hiệp: Diện tích tự nhiên 419,33 km2, dân số 146.933 người, mật độ dân số 350 người/km2. Trong tổng dân số có tới 36,06% theo đạo Thiên chúa. Sản xuất chủ yếu là nông nghiệp. GDP năm 2001 chiếm 8,4% GDP toàn tỉnh
   Huyện Châu Thành: Diện tích tự nhiên 277,57 km2, dân số 138.366 người, mật độ dân số 498 người/km2. Ngoài dân tộc kinh còn có hơn 30% dân tộc Khơme cư trú. Sản xuất chủ yếu là nông nghiệp và thủy sản. GDP năm 2001 chiếm 6,1% GDP toàn tỉnh
   Huyện Giồng Riềng: Diện tích tự nhiên 634,29 km2, dân số 207.330 người là huyện có dân số cao nhất, mật độ dân số 327 người/km2. Sản xuất chủ yếu là nông nghiệp. GDP năm 2001 chiếm 8,3% GDP toàn tỉnh
  Huyện Gò Quao: Diện tích tự nhiên 424,31 km2, dân số 142.518 người, mật độ dân số 336 người/km2. Ngoài người Kinh trong huyện còn có số đông người dân tộc Khơme cư trú chiếm 29,8% dân số toàn huyện. Sản xuất chủ yếu là nông nghiệp. GDP năm 2001 chiếm gần 4,9% GDP toàn tỉnh
  Huyện An Biên: Diện tích tự nhiên 466,17 km2, dân số 138.676 người, mật độ dân số 297 người/km2. Sản xuất chủ yếu là nông nghiệp và thủy sản. GDP năm 2001 chiếm 5,2% GDP toàn tỉnh
  Huyện An Minh: Diện tích tự nhiên 710,5 km2, dân số 127.688 người, mật độ dân số 180 người/km2. Là huyện nằm trong vùng U Minh thượng, lại giáp biển nên sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (cả khai thác và nuôi trồng). GDP năm 2001 chiếm 6,2% GDP toàn tỉnh
  Huyện Vĩnh Thuận: Diện tích tự nhiên 603,61 km2, dân số 129.439 người, mật độ dân số 214 người/km2. Là huyện nằm trong vùng U Minh thượng, sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (nuôi trồng).
   Huyện Phú Quốc: Là huyện đảo với diện tích tự nhiên 593,05 km2. Tiềm năng về du lịch, thương mại của Phú Quốc rất lớn, đặc biệt Chính phủ đã quyết định xây dựng “Khu kinh tế thị trấn Dương Đông” và kêu gọi nhiều dự án đầu tư, nên những năm gần đây dân số Phú Quốc tăng rất nhanh, từ 42.457 người năm 1991 lên 77.358 người năm 2001, tăng bình quân 5,6%/năm. Sản xuất chủ yếu là thủy sản và công nghiệp chế biến, có hồ tiêu, nước mắm nổi tiếng, có rừng nguyên sinh phong phú với nhiều chủng loại cây và 140 loài động vật. GDP năm 2001 chiếm 5,6% GDP toàn tỉnh.
   Huyện Kiên Hải: Là huyện đảo với diện tích tự nhiên 38,69 km2, dân số 20.221 người mật độ dân số 523 người/km2. Sản xuất chủ yếu là thủy sản. GDP năm 2001 chiếm gần 2% GDP toàn tỉnh.

 

Sông nước Kiên Giang
 

(Nguồn : www.kiengiang.gov.vn)

top
Trang chủ English Forum Liên lạc Sơ đồ
     
Tài trợ chính Tài trợ đường truyền Tài trợ Server