MÔI TRƯỜNG
KHẢ THI CHO CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TS. Nguyễn Mạnh
Dũng
Sở Bưu
chính-Viễn thông Hà Nội
Một cách chung nhất, Chính quyền điện
tử (e-Government) chỉ việc các cơ quan sử
dụng công nghệ thông tin (mạng diện rộng,
Internet, phần mềm ứng dụng, máy tính di động…)
để tăng cường các mối quan hệ với
dân chúng, với giới doanh nghiệp và các cơ quan khác,
phục vụ cho các mục đích khác nhau như: cung
cấp tốt hơn các dịch vụ tới người dân, doanh
nghiệp, cải thiện sự giao tiếp với
giới doanh nghiệp và công nghiệp, để nhân dân có
quyền truy nhập thông tin và giúp quản lư có hiệu quả hơn.
Với Nghị định 49/CP,
Quyết định 95/2002/QĐ-TTg, Quyết định
112/2001/QĐ-TTg của Chính phủ được cụ
thể hoá trong các chương tŕnh quốc gia về CNTT và
theo tinh thần của hiệp định khung e-ASEAN
về sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) và truyền
thông để thúc đẩy việc cung cấp và
chuyển giao các dịch vụ hành chính công tới
người dân, tiến tới thực hiện các giao
dịch trực tuyến, tạo thuận lợi hơn
nữa cho việc liên kết giữa khu vực tư nhân
và Chính phủ, thành phố Hà Nội - trung tâm đầu năo
chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn
hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch
quốc tế của cả nước, đang khẩn
trương phát triển ứng dụng CNTT trong các lĩnh
vực của đời sống kinh tế xă hội, đặc
biệt là trong hoạt động xây dựng Chính quyền
điện tử.
Ngày 22 tháng 5 năm 2001, Thành uỷ thành
phố Hà Nội (Khoá XIII) đă có Chương tŕnh 04-CTr/TU
về ứng dụng và phát triển CNTT. Uỷ ban nhân dân
thành phố cũng đă triển khai Chương tŕnh
04-CTr/TU bằng Kế hoạch 02/ KH-UB cùng nhiều đề
án ứng dụng và phát triển CNTT và truyền thông. Đặc
biệt, Ngày 21 tháng 4 năm 2004, Thành uỷ đă có đề
án số 32-ĐA/TU về một số nhiệm vụ
trọng tâm cải cách hành chính trong 2 năm 2004-2005. Đề
án chỉ ra rất rơ lộ tŕnh về cải cách hành chính cùng
với những yêu cầu về việc triển khai các
ứng dụng CNTT theo sát yêu cầu cải cách hành chính. Xây
dựng Chính quyền điện tử là một trong
những nội dung quan trọng của các chương
tŕnh, kế hoạch và đề án nêu trên.
Bài viết này dựa trên sự
tổng hợp t́nh h́nh triển khai chính quyền điện
tử tại Thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó đề
xuất ra những công việc cần tiến hành nhằm
tạo ra một môi trường khả thi nhất cho
việc triển khai chính quyền điện tử trong giai
đoạn tiếp theo đặc biệt trong việc cung
cấp dịch vụ công cho công dân.
II. T̀NH H̀NH TRIỂN KHAI CHÍNH PHỦ
ĐIỆN TỬ TẠI HÀ NỘI
Thực tế cho thấy, Hà Nội
hiện đang có nhiều thuận lợi để xây
dựng Chính quyền điện tử do Hà Nội là
nơi tập trung các tiềm năng hợp tác, liên kết
về mọi lĩnh vực kinh tế , khoa học và công
nghệ, bao gồm cả lĩnh vực CNTT và truyền
thông thông qua các cơ quan, tổ chức, các viện nghiên
cứu, các trường đại học, khối các doanh
nghiệp ở cả Trung ương, địa
phương và các tổ chức nước ngoài.
2.1 Nhiệm vụ
Nhận thức được mối
quan hệ hữu cơ giữa cải cách hành chính (CCHC)
với việc ứng dụng CNTT trong quản lư hành chính
nhà nước, trong thời gian qua thành phố đă
tập trung chỉ đạo:
1. Đẩy mạnh
cải cách hành chính, xây dựng và ban hành chính sách thu hút và
thúc đẩy phát triển đội ngũ cán bộ CNTT
tại các đơn vị hành chính nhằm tạo môi trường
thuận lợi để đưa CNTT vào ứng dụng
cho các hoạt động quản lư và sản xuất.
Sử dụng CNTT như một công cụ hữu hiệu để
cải cách hành chính .
2. Xây dựng qui
hoạch, kế hoạch ứng dụng CNTT bao gồm đẩy
mạnh xây dựng hạ tầng truyền thông, làm nền
tảng cho các ứng dụng CNTT trong quản lư nhà nước
cũng như trong các hoạt động kinh tế, xă
hội khác; Thực hiện các dự án phát triển và
ứng dụng CNTT bao gồm: Xây dựng các hệ
thống thông tin, phát triển các dịch vụ trực
tuyến phục vụ công dân.
3. Đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực CNTT.
2.2 Kết quả bước đầu
Sau hơn 3 năm thực hiện, Thành
phố Hà Nội đă có các kết quả bước đầu
trong lĩnh vực xây dựng CPĐT như sau:
1. Lănh đạo Thành
phố, các sở, ban ngành, quận, huyện đă nhận thức được
tầm quan trọng của
ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả
quản lư và điều hành; trong sản xuất và các
hoạt động kinh tế, xă hội. Thành phố đă
thành lập Ban Chỉ đạo CNTT do đồng chí Phó
Chủ tịch thường trực UBND Thành phố làm trưởng
ban để chỉ đạo toàn bộ chương tŕnh
CNTT của Thành phố.
2. Tăng cường
thêm biên chế CNTT cho mỗi đơn vị để
thúc đẩy ứng dụng CNTT tại các quận,
huyện, sở, ngành. Đầu tư đồng bộ cơ
sở vật chất cho các đơn vị hành chính
của Thành phố để nâng cao mặt bằng ứng
dụng CNTT trong các hoạt động quản lư hành chính
nhà nước. Kết quả đạt được như
sau:
a. Tŕnh độ về
CNTT của cán bộ nhân viên trong các cơ quan : Mặt bằng
về tŕnh độ sử dụng thiết bị CNTT và
phần mềm phục vụ công việc chuyên môn cũng
như quản lư đă được cải thiện đáng
kể. Tại hầu hết các đơn vị đều
đă có ít nhất 01 biên chế chuyên trách về CNTT.
Tại mỗi đơn vị, trung b́nh 70% biết sử
dụng máy tính để soạn thảo văn bản,
gần 40% biết sử dụng máy tính để phục
vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ, trên 30% biết tác
nghiệp trên mạng LAN, khoảng 50% biết khai thác,
sử dụng Internet phục vụ công việc của
ḿnh. Đến
nay trung b́nh 100 cán bộ CNVC th́ có 50 máy tính. Trang thiết
bị tiếp tục được Thành phố đầu
tư hàng năm theo nhu cầu sử dụng.
b. Về mạng LAN và
kết nối Internet: 100% số đơn vị đă có
mạng LAN trong đó số đơn vị đưa
mạng LAN vào khai thác có hiệu quả là 75%. Mạng LAN
chủ yếu được lắp đặt tại
trụ sở của các đơn vị là sở, ngành,
quận, huyện. 100% các đơn vị đă kết
nối VPN với Cổng GTĐT Hà Nội. 72% các đơn
vị kết nối trực tiếp Internet.
c. Hiện trạng
sử dụng phần mềm như sau: Phần mềm
quản lư công văn chiếm 10%, Website nội bộ 14%,
Website phục vụ ngành 4%, phần mềm quản lư nhân
sự 15%, phần mềm kế toán, tài chính 9%, Phần
mềm quản lư phục vụ công tác ngành chiếm 31%,
phần mềm phục vụ công tác chuyên môn 17%.
3. Ban Công nghệ thông
tin (nay là Sở BCVT) Thành phố đă tổ chức nhóm
hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp tại các
đơn vị sở ngành thành phố. Nhóm này tư
vấn về kỹ thuật phù hợp với những điều
kiện của Hà Nội nói riêng, của Việt Nam nói chung
nhằm nhanh chóng giúp các đơn vị sở ngành
triển khai các dịch vụ công phục vụ
người dân, giới doanh nghiệp và công nghiệp
cũng như giữa các cơ quan Chính quyền thành
phố Hà Nội với nhau bằng các công nghệ mới
ngang tầm với khu vực và Quốc tế.
4. Xây dựng Cổng
giao tiếp điện tử (Cổng GTĐT) của thành
phố giai đoạn I với mục tiêu thực hiện
cung cấp, phổ biến chủ trương, chính sách và
các thông tin hoạt động của Chính quyền Thành
phố đến với người dân, từng bước
triển khai dịch vụ trực tuyến giữa Chính
quyền thành phố với các đối tượng là
nhân dân, giới doanh nghiệp và công nghiệp, các cơ quan
trực thuộc thành phố với nhau và với các cơ
quan Trung ương đóng trên địa bàn. Hiện nay, Cổng GTĐT Hà
Nội là nơi cung cấp đầy đủ các văn
bản qui phạm pháp luật, trước mắt là ở
cấp Thành phố, sau là các văn bản qui phạm pháp
luật từ các đơn vị cấp sở, ban, ngành,
quận, huyện, phường, xă. Đến thời điểm
này, Cổng GTĐT Hà Nội đă thu thập được
toàn bộ thủ tục hành chính cập nhật
đến phường xă.
a. Hầu hết 100% các
đơn vị sở, ban, ngành, quận, huyện đều
tham gia vào Cổng GTĐT, hiện đang cung cấp các văn
bản qui phạm pháp luật, các thông báo, hướng
dẫn cho công dân. Đến thời điểm này, 30% các đơn
vị đă cung cấp trạng thái xử lư hồ sơ
thủ tục hành chính tại các Trung tâm tiếp nhận và
giải quyết thủ tục hành chính (gọi tắt là
Trung tâm 1 cửa) lên Cổng GTĐT Hà Nội. Đến
b. Thành phố Hà Nội
đă ban hành hệ thống mă số cho phiếu nhận và
trả hồ sơ thủ tục hành chính để làm cơ
sở ban đầu cho việc quản lư thống nhất
hồ sơ thủ tục hành chính trong phạm vi toàn Thành
phố.
c. Xây dựng dịch
vụ trực tuyến, bắt đầu bằng dịch
vụ trả lời các câu hỏi của công dân nhằm
trợ giúp cho công dân hoàn thiện thủ tục hành chính.
Hiện nay công dân có thể tra cứu và hỏi về 19
dịch vụ hành chính, do 10 sở, ngành đảm nhận
việc trả lời. Đây cũng là bước
khởi đầu cho các giao tiếp 2 chiều với công
dân. Trong tương lai cần đề cập đến
tất cả các lĩnh vực bao quát được đầy
đủ các thủ tục hành chính
d. Xây dựng và
triển khai thực hiện dự án tin học hoá các trung
tâm 1 cửa với các mục tiêu: Trang bị kỹ
thuật cho các trung tâm tiếp nhận và giải quyết
các thủ tục hành chính, để đủ năng
lực khai thác các phần mềm hỗ trợ giải
quyết các TTHC tại chính các Trung tâm 1 cửa; Xây dựng
các hệ thống thông tin hỗ trợ giao tiếp của
công dân với chính quyền qua Cổng GTĐT, hỗ
trợ giao dịch với công dân tại Trung tâm 1 cửa,
hỗ trợ các chuyên viên
thụ lư TTHC, hỗ trợ cung cấp thông tin cho lănh
đạo.
e. Công tác tuyên truyền
và hỗ trợ công dân cũng được coi là một
biện pháp quan trọng của cải cách hành chính và xây
dựng CPĐT. Ngoài các hướng dẫn có sẵn trên
Cổng GTĐT, Thành phố đang tiến hành thành lập
tổ tư vấn trực tuyến để
hướng dẫn qui tŕnh thủ tục cho công dân qua
đường điện thoại và lập tổ
hỗ trợ kỹ thuật trực thuộc Ban CNTT
để trợ giúp cho các nội dung trên.
5. Đă lập xong
dự án khả thi xây dựng mạng MAN của Thành
phố. Năm 2005 sẽ bắt đầu triển khai thi
công. Đây là cơ sở hạ tầng truyền thông để
phục vụ công tác quản lư điều hành của Thành
phố.
6. Thực hiện các
dự án lớn về hạ tầng thông tin như Xây
dựng hệ thống tích hợp thông tin địa lư
(HANO GIS), Hệ thông thông tin quản lư Dân cư, nhằm
quản lư thống nhất dữ liệu, làm cơ sở
để phát triển các dịch vụ công và giải
quyết các hồ sơ thủ tục đ̣i hỏi liên
ngành. Xây dựng và triển khai thử nghiệm đối
với một số dịch vụ công liên quan tới các
vấn đề về tư pháp, giáo dục, y tế, giao
thông, du lịch, thể dục thể thao...dưới h́nh
thức dự án thử nghiệm mang tính kỹ thuật và
tiến hành đánh giá các tác động tích cực cũng
như tiêu cực của việc cung cấp dịch vụ
công trong các điều kiện cụ thể của Hà
Nội.
7. Các nghiên cứu:
a. Nghiên cứu và
từng bước tháo gỡ những vướng mắc
kỹ thuật đặc thù mang tính sống c̣n đối
với CPĐT của Hà Nội để có thể nhanh
chóng triển khai CPĐT trên địa bàn thành phố.
b. Phối hợp
với các cơ quan liên quan xây dựng và xác định
những tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu,
chuẩn về an ninh và an toàn thông tin cung cấp trên
mạng, chuẩn về truy nhập mạng, chuẩn
về bảo vệ tính riêng tư, chuẩn về xuất
bản và lưu trữ, lưu giữ các tư liệu,
từng bước chuẩn hoá hợp chuẩn ISO và các
chuẩn quốc tế khác.
8. Tích cực đào
tạo công nghệ thông tin cho công chức các Sở ngành
thành phố Hà Nội để có thể sử dụng các
công cụ CNTT và truyền thông phục vụ triển khai
CPĐT của Hà Nội.
III. MỘT SỐ BÀI
HỌC VỀ KẾT HỢP TỐT GIỮA CẢI CÁCH HÀNH
CHÍNH VỚI TIN HỌC HOÁ QUẢN LƯ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC .
Trong các đề án
tin học hoá quản lư hành chính nhà nước của ḿnh
(gọi tắt là “Đề án 112”), hầu hết các
Tỉnh, Thành phố đều đặt mục tiêu
như nhau, đó là:
-
Đến cuối năm 2005, đưa hệ
thống thông tin điện tử vào hoạt động
-
Thúc đẩy mạnh mẽ việc hiện
đại hoá công nghệ hành chính,
-
Thực hiện tin học hoá hầu hết các
dịch vụ công,
-
Hoàn thiện và thống nhất áp dụng các phần
mềm dùng chung, tích hợp các CSDL quốc gia.
Thêm vào đó, tuỳ t́nh h́nh từng
địa phương, Đề án đặt ra các
mục tiêu: Đi đầu, hoặc đạt tŕnh
độ tiên tiến trong nước và khu vực...
Những
mục tiêu đó hoàn toàn đúng, song quá lớn. Và tại
thời điểm 2001 (khi phê duyệt các đề án),
những mục tiêu này không mang tính khả thi.
Lúc đó, thậm chí ngay cả bây
giờ, chúng ta cho rằng
vấn đề “Tin học hoá quản lư hành chính
nhà nước” là triển khai các dự án ứng
dụng CNTT là trọng tâm, mà không hiểu rằng, bản
chất của vấn đề là sử dụng CNTT
như là một phương tiện để đạt mục tiêu chính yếu
nhất là “Hiện đại hoá hoạt động
của Bộ máy hành chính nhà nước” để cho
bộ máy ấy trở nên “Sẵn sàng về mặt
điện tử” để “cung cấp ngày càng tốt hơn các dịch
vụ ngày càng có chất lượng hơn” cho công dân. CNTT
chỉ trở thành động lực nếu nó thúc
đẩy mạnh mẽ quá tŕnh cải cách hành chính (CCHC).
Và ngược lại, chỉ khi CCHC đạt
được những kết quả nhất
định, th́ các dự án ứng dụng CNTT mới có
thể triển khai có hiệu quả được.
Như vậy, CCHC xác định phạm vi để
triển khai các ứng dụng CNTT.
Điều
đă thấy rơ ở đây là, không thể để t́nh
trạng CCHC và THH quản lư hành chính nhà nước mạnh
ai nấy làm. Như chúng ta đă biết, CCHC hiện nay
đang ở đâu. Đấy chính là nguyên nhân của
sự bế tắc của đề án 112. Chính do vậy,
trong báo cáo tŕnh Thành uỷ Hà Nội sơ kết 2 năm thực
hiện Chương tŕnh 04-CTr/TU (năm 2003), Ban CNTT thành
phố đă chỉ rơ: “... Chưa gắn kết nhuần
nhuyễn chương tŕnh cải cách hành chính nhà
nước, trước mắt là cải cách thủ
tục hành chính với chương tŕnh tin học hoá
quản lư hành chính nhà nước. Phải xem
tin học hoá quản lư hành chính các cơ quan chính quyền,
các cơ quan Đảng là một bộ phận hữu
cơ của chương tŕnh cải cách hành chính Nhà nước
ở tất cả các cấp, phải tiến hành đồng
bộ với chương tŕnh cải cách hành chính, là
bộ phận quan trọng nhất của Chương
tŕnh 04 của Thành uỷ.
Trong
một bài báo mới đây đăng trên Tạp chí PC WORLD
Seirie B, đă chỉ rơ, cần phải CCHC trước
đă rồi mới THH để tạo ra các phần
mềm dùng chung. Các phần mềm dung chung chỉ có
nghĩa khi chúng được thiết kế dựa trên
các qui tŕnh quản lư hành chính chuẩn. Hiện các qui tŕnh
đó đều đang trong trạng thái cải cách
(tức là chưa chuẩn) th́ các phần mềm dùng chung
sẽ dựa vào đâu để xây dựng? Có thể
khẳng định, đến 2005 chúng ta cũng chưa
thể có đủ cơ sở để thực thi.
Một
trong những nội dung trọng tâm của các đề án
112 (theo chỉ đạo) là xây dựng các Trung tâm tích
hợp dữ liệu, nhằm phá bỏ t́nh trạng cát
cứ thông tin vốn có từ lâu đời. Nhưng
một lần nữa chúng ta lại duy ư chí. Nền
tảng của mọi hệ thống thông tin là cơ
sở dữ liệu, mà cơ sở dữ liệu nền
tảng này chúng ta đă có đâu. Chưa có cơ sở
dữ liệu, chưa có cơ sở để chuẩn
hoá thông tin (v́ chưa thể làm được) th́ các Trung
tâm tích hợp dữ liệu sẽ tích hợp cái ǵ?
Đối
với Thành phố Hà Nội, trong 3 năm qua, chúng ta đă
dần từng bước xây dựng được: 1)
một mạng diện rộng sử dụng công nghệ
XDSL (khi mạng hành chính quốc gia chưa h́nh thành) kết
nối tất cả các mạng LAN của các đơn
vị sở, ngành, quận huyện (đang tiến
tới xă/phường trong năm 2005), 2) Hệ thống
các website điều hành tác nghiệp trên tất cả các
mạng LAN; hệ thống tiếp nhận, xử lư và
trả hồ sơ thủ tục hành chính cho công dân theo mô
h́nh một cửa (cũng tiến tới cấp
xă/phường vào cuối 2005) nối với Cổng Giao
tiếp điện tử Hà nội, và 3) Đang tích
cực xây dựng một số CSDL quan trọng nhất:
CSDL quản lư đô thị (HANOGIS), CSDL quản lư dân cư,
CSDL tổng hợp về kinh tế-xă hội, CSDL về
tài chính (mà trước hết là quản lư ngân sách và tài
sản công), song song với nó là hàng loạt hệ thống
thông tin và CSDL khác nữa mang tính chuyên ngành và phục vụ
cộng đồng.
Tại Hà Nội, tuy rằng đầu
tư chưa đáp ứng nhu cầu, nhưng việc
tổ chức triển khai chậm hoặc không triển khai
được do năng lực tổ chức kém gây ảnh hưởng rất
lớn đến hiệu quả đầu tư chung. Chất
lượng hệ thống, nhất là các phần mềm
c̣n thấp có nguyên nhân từ năng lực chuyên môn và
tổ chức của cả cơ quan chủ đầu
tư, cơ quan thụ hưởng đầu tư và đơn vị tư vấn
CNTT. Đặc biệt có không ít Sở, Ngành đă xây
dựng hệ thống có sở hạ tầng và một
số phần mềm ứng dụng đủ để
có thể bước đầu đưa hệ thống
mạng máy tính vào hoạt động, nhưng do lănh đạo
không kiểm tra, đôn đốc và không có bộ máy
tương xứng đủ năng lực, xây dựng xong nhưng không được
cập nhật thông tin dẫn đến hệ thống
không hoạt động (hiện
tượng đắp chiếu). Tổ chức tốt
thông tin và đưa thông tin vào phục vụ hoạt động
quản lư quyết định hiệu quả đầu
tư chứ không phải bản thân thiết bị CNTT và
phần mềm.
Điều tối quan trọng
để hệ thống thông tin hành chính điện
tử thực sự “sống” là toàn bộ cán bộ công
chức trong bộ máy, trước hết là người
đứng đầu, phải đủ năng lực
sử dụng nó để thao tác nghiệp vụ hành chính,
cập nhật, trao đổi, chia sẻ thông tin.
Tạo
lập cơ sở hạ tầng CNTT, kể cả đào
tạo cán bộ công chức đủ tŕnh độ
sử dụng là điều không quá khó, đẩy
mạnh cải cách hành chính để tạo điều
kiện đủ cho Tin học hoá quản lư hành chính nhà
nước, và quan trọng hơn nữa, người
đứng đầu phải đủ năng lực và
đủ quyết tâm vận hành
bộ máy “Hành chính điện tử ấy” mới là
điều cốt tử. Trong quá tŕnh xây dựng
dự án và đưa Cổng giao tiếp điện
tử Hà Nội vào hoạt động chính thức, Lănh
đạo Thành phố và đặc biệt Ban chỉ đạo
CCHC, các sở ngành đă chính thức vào cuộc, là một
dấu hiệu rất đáng khích lệ.
IV. ĐỀ XUẤT CÁC
NHIỆM VỤ NHẰM TẠO RA MỘT MÔI TRƯỜNG
KHẢ THI CHO VIỆC TRIỂN KHAI CHÍNH PHỦ ĐIỆN
TỬ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Để Chính phủ điện
tử được xây dựng thành công th́ phải đảm
bảo cho các yêu tố sau:
1. Quá tŕnh cải cách
hành chính và sự quan tâm của lănh đạo Thành phố đến
nhiệm vụ xây dựng CPĐT.
2. Sở BCVT – cơ quan
tham mưu cho Thành phố về quản lư bưu chính,
viễn thông và CNTT cần phải là một đơn
vị có năng lực, làm chủ cả CNTT và công nghệ
hành chính (trong giai đoạn xây dựng CPĐT)
3. Tŕnh độ dân trí,
biểu hiện qua số lượng người sử
dụng Internet
4. Tŕnh độ sử
dụng công cụ CNTT của các công chức, viên chức -
người cung cấp dịch vụ công cho công dân
5. Phương thức
mô h́nh quản lư và chia sẻ và xử lư thông tin của các cơ
quan hành chính trực thuộc Thành phố.
6. Hạ tầng
truyền thông chung của Thành phố, mạng LAN và điều
kiện trang thiết bị CNTT, phần mềm tại các
cơ quan hành chính – nơi xử lư các hồ sơ thủ
tục hành chính cho công dân.
7. Môi trường pháp
lư đảm bảo cho các giao dịch có thể thực
hiện qua mạng
8. Các hỗ trợ
kỹ thuật, dịch vụ CNTT sẵn có trên địa
bàn.
Xây dựng Chính phủ điện
tử cho Thành phố Hà Nội là một công việc
phức tạp, cần có nghiên cứu kỹ trước
khi tiến hành. Trên cơ sở kết quả đạt được
trong giai đoạn vừa qua, chúng tôi nhận thấy trong
giai đoạn tiếp theo cần phải cần phải
tiến những công việc sau nhằm đảm bảo
một môi trường thuận lợi cho việc
triển khai chính phủ điện tử có hiệu
quả:
- Tiếp tục tiến hành cải
cách hành chính trong đó CNTT được sử dụng
như một công cụ
- Xây dựng hạ tầng pháp lư chocác
giao dịch điện tử
- Xây dựng các chủ chương,
chính sách
- Xây dựng hạ tầng truyền
thông
- Xây dựng hạ tầng thông tin
- Xây dựng mô h́nh kiến trúc ứng
dụng
- Xây dựng các dich vụ công trực
tuyến
- Hoàn thiện Cổng GTĐT Hà
Nội, liên thông với các Cổng dịch vụ của
các Bộ, Ngành
- Đảm bảo nguồn lực
CNTT để vận hành các hệ thống nêu trên
- Đào tạo CIO ở các cấp
- Nâng cao nhận thức, xă hội hoá
thông tin
1. Quyết tâm của Lănh đạo
Thành phố
Hà Nội có thuận lợi do Lănh đạo
Thành phố có quan tâm chỉ đạo; cải cách hành chính
lại luôn đi trước một bước và đă
sử dụng CNTT như một công cụ để
thực hiện cải cáh hành chính.
- Thành phố đă lập Ban Chỉ đạo
CNTT của Thành phố do đ/c PCT thường trực
UBND Tp đứng đầu.
- Thành phố đă có Ban Chỉ đạo
cải cách hành chính do đ/c Chủ tịch UBND Thành phố
đứng đầu.
- Sở BCVT là cơ quan chuyên môn cần
phải nhanh chóng kiện toàn để đủ năng
lực tham mưu cho Lănh đạo Thành phố các nội
dung vàbiện pháp cần thiết để XD CPĐT.
Việc triển khai CPĐT được
triển khai tại chính các cơ quan công quyền, do đó
việc triển khai chỉ có thể thành công nếu có
sự nhận thức về vai tṛ của CPĐT đối
với xă hội của các cấp lănh đạo và chính các
cán bộ tại cơ quan công quyền-những người
đóng vai tṛ trung tâm trong sự thành công của CPĐT. Trên
cơ sở đó sẽ làm nền tảng chỉ đạo
vững chắc cho việc triển khai.
Trong giai đoạn vừa qua đă có
sự chỉ đạo sát sao của Lănh đạo Thành
phố và sở Nội vụ, bám sát lộ tŕnh cải cách
hành chính của Thành phố nên việc đưa CNTT vào
ứng dụng trong bộ máy chính quyền đă
đạt được kết quả khả quan. Trong
thời gian tới cần tiếp tục phấn
đấu để duy tŕ được mối quan tâm
của lănh đạo Thành phố và lănh đạo các
sở, ngành liên quan.
2. Cải cách bộ máy hành chính:
Trọng tâm của việc triển
khai chính phủ điện tử là cải cách hành chính. Do đó,
cải cách hành chính phải đi trước một bước,
làm cơ sở cho việc triển khai CPĐT. Bao gồm:
a. Sắp xếp
hợp lư tổ chức bộ máy của các cơ quan hành
chính thuộc các cấp chính quyền thành phố làm cơ
sở cho việc tiêu chuẩn hoá quy tŕnh giải quyết
TTHC.
b. Tăng cường
quản lư nhà nước về đào tạo và đẩy
mạnh công tác đào tạo nâng cao kỹ năng thực
thi công vụ cho cán bộ công chức thành phố.
c. Đẩy mạnh
tin học hoá quản lư hành chính, áp dụng ISO.9002 trong
giải quyết TTHC đối với một số
lĩnh vực trọng điểm.
d. Phương pháp
tiếp cận theo hướng “Minh bạch” -> “Hiệu
lực” -> “Hiệu quả”. Luôn lấy công dân làm tâm điểm
để phục vụ. Hướng tiếp cận này
tạo ra các áp lực từ nhiều hướng để
bộ máy chính quyền biến chuyển theo từng giai đoạn:
§
“Minh bạch”: là bước công khai mọi qui định,
qui tŕnh xử lư và các văn bản qui phạm pháp luật
liên quan cho cộng đồng, tạo điều kiện để
công dân tham gia kiểm tra được việc thực thi
các quyết định, mệnh lệnh hành chính của
bộ máy chính quyền.
§
“Hiệu lực”: Nội dung của bước này là
những nỗ lực cải thiện bộ máy chính
quyền, đảm bảo mọi quyết định,
qui định hành chính ban hành đều được
bộ máy chính quyền thực thi một cách chính xác. Bước
này đảm bảo tính hiệu lực của bộ máy
chính quyền, tạo ra một bộ máy chính quyền
mạnh, thực thi.
§
“Hiệu quả”: là bước cải cách nhằm
tối ưu các qui tŕnh xử lư các thủ tục hành chính
trên cơ sở bộ máy chính quyền đă hoạt động
có hiệu lực.
3. Kiện toàn và nâng cao năng lực
của Sở BCVT Thành phố
- Đủ năng lực để
tham mưu cho Thành phố các định hướng,
chiến lược, qui hoạch, kế hoạch và các chương
tŕnh CNTT trong đó có chương tŕnh xây dựng Chính
phủ điện tử của Thành phố.
- Chỉ đạo việc xây dựng
và quản lư vận hành hạ tầng cơ sở về
truyền thông, về thông tin, chỉ đạo về
đầu tư công nghệ và đầu tư thoả
đáng cho việc h́nh thành hạ tầng cơ sở
dữ liệu để thực hiện xây dựng chính
phủ điện tử.
- Giám đốc sở BCVT Hà Nội
đóng vai tṛ là CIO của Thành phố để chỉ
đạo công tác quản lư,
điều hành các hệ thống thông tin tích hợp như
GIS, trung tâm tích hợp dữ liệu của Thành phố.
CIO của Thành phố chỉ đạo để
đảm bảo cơ chế chia sẻ và cập
nhật thông tin theo đúng phân cấp về quản lư thông
tin của các đơn vị để phục vụ
tốt nhất cho các nhu cầu khai thác và sử dụng
nguồn tài nguyên quan trong này. Tổ chức và chỉ
đạo công tác xây dựng các chuẩn về lưu
trữ và trao đổi thông tin, về giao dịch
điện tử. Phối hợp với sở Nội
vụ xây dựng các hệ thống mă số cho các qui tŕnh,
hồ sơ thủ tục hành chính thống nhất trên
phạm vi toàn thành phố để đảm bảo các
điều kiện kỹ thuật tin học hoá các qui tŕnh
thủ tục hành chính.
Các chuẩn nêu trên, các phương án
quản lư nguồn thông tin đều phải đi
trước một bước khi xây dựng, số hoá các
nguồn tin, đảm bảo các chuẩn theo hướng
mới, không phụ thuộc vào việc sử dụng các
phần mềm lưu trữ và trao đổi thông tin, tránh
vấn đề phụ thuộc vào công nghệ và sản
phẩm do các nhà cung cấp đưa ra
- Phối hợp với các cơ quan có
thẩm quyền tiếp tục xây dựng tiêu chuẩn
về an toàn thông tin cung cấp trên mạng, chuẩn về
truy nhập mạng, chuẩn về bảo vệ tính riêng
tư, chuẩn về xuất bản và lưu trữ,
lưu giữ các tư liệu (record) phục vụ cho
việc triển khai CPĐT Hà Nội.
- Ngoài các nhiệm vụ trực
tiếp liên quan đến xây dựng Chính phủ
điện tử nêu trên, sở BCVT đóng vai tṛ là tham
mưu, tư vấn cho Thành phố tạo ra một môi
trường đầu tư về CNTT, công bằng và
thuận lợi để các doanh nghiệp CNTT phát
triển – h́nh thành nguồn lực CNTT mạnh. Mục
đích cuối cùng là tạo ra được một
nền tảng CNTT của Thành phố (dựa trên 4 trụ
cột: Hạ tầng truyền thông, Nguồn nhân lực
CNTT, Công nghiệp CNTT, Ứng dụng và dịch vụ)
phục vụ cho công cuộc xây dựng Chính phủ
điện tử tại Thành phố.
Tiếp tục đầu tư, qui
hoạch lại mạng LAN của các đơn vị,
đảm bảo sự thống nhất chung và thống
nhất với các mạng của cơ quan thuộc ngành
dọc đă được hoạch định hoặc
đă được đầu tư. Đảm bảo
mạng LAN của các đơn vị chạy ổn định
và đáp ứng được các yêu cầu kỹ
thuật khi cài đặt các phần mềm quản lư
hoặc phần mềm dịch vụ. Làm sao đảm
bảo được cho các công chức viên chức
được trang bị thiết bị CNTT đầy
đủ và biết sử dụng thành thạo cho lĩnh
vực chuyên môn của ḿnh.
Bên cạnh đó, cần tăng
cường hoạt động của các điểm truy
nhập Internet tại những địa điểm đông
dân như tại các siêu thị, nơi công cộng đông
người tụ tập, mở rộng mạng
lưới truy nhập Internet về các quận huyện,
xă phường trong phạm vi toàn thành phố nhằm
tạo điều kiện cho việc cung cấp các
dịch vụ công tới mọi tầng lớp dân cư
Hà Nội.
Tăng cường đào tạo
kỹ năng sử dụng CNTT, nhận thức của người
dân với vai tṛ và ư nghĩa mà CPĐT mang lại v́ công dân
tổ chức chính là những “khách hàng” của những
dịch vụ này. Nếu “khách hành” chưa sẵn sàng
về kỹ năng, tŕnh độ sử dụng th́
dịch vụ triển khai xong cũng rất khó đem
lại hiệu quả như mong muốn.
5. Tạo lập môi trường pháp lư
Để triển khai CPĐT được
th́ có một yếu tố quyết định đó là các
qui định của Nhà nước về xác thực,
chứng thực điện tử. Hiện mới có duy
nhất Quyết định số 44/2002/QĐ-TTg về
chấp nhận chữ kư điện tử trong thanh toán
ngân hàng. C̣n quá nhiều trở ngại pháp lư khác liên quan
đến sự bảo đảm về an toàn, bảo
mật đối với thông tin của cơ quan, doanh
nghiệp và người sử dụng; luật hợp
đồng giao dịch điện tử, gồm các
vấn đề như h́nh thức hợp đồng,
chứng thực, quyền sở hữu trí tuệ; bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng; các vấn
đề về thuế và hải quan; giải quyết
tranh chấp; trách nhiệm của nhà cung cấp dịch
vụ Internet, của các cơ quan chứng thực.
6. Chính sách hợp lư
Xây dựng chính sách ưu đăi đối
với những người thực hiện và đào
tạo phải đi trước một bước so
với các công việc khác.
Tăng cường đào tạo công
nghệ thông tin cho công chức các Sở ngành thành phố Hà
Nội để đạt tŕnh độ có thể
sử dụng các công cụ CNTT và truyền thông do thành
phố trang bị. Công việc đào tạo này mặc dù
phải đi truớc song lại là một quá tŕnh lâu dài,
thường xuyên và phải gắn với những công
việc liên quan tới CPĐT của chính các công chức đó
tại các Sở ban ngành.
Phải có những chính sách đầu
tư thoả đáng, đầu tư đúng mức
về qui mô nhằm tránh việc đầu tư dàn
trải, chia thành nhiều việc nhỏ dẫn đến
những khó khăn khi triển khai đồng thời
việc dành kinh phí duy tŕ bổ sung cũng không thể
bị coi nhẹ.
- Thu hút và h́nh thành Nhóm chuyên trách về
phát triển Chính Quyền điện tử. Nhóm này sẽ
thực hiện nghiên cứu về kỹ thuật và
lựa chọn công nghệ phù hợp với những điều
kiện đặc thù của thành phố Hà Nội nói riêng,
của Việt Nam nói chung nhằm cải tiến các
dịch vụ cung cấp cho người dân, giới doanh
nghiệp và công nghiệp cũng như giữa các
đơn vị sở ngành thành phố với nhau với
các công nghệ mới ngang tầm với khu vực và
Quốc tế. Thành phần của nhóm chuyên trách này sẽ
gồm các đại diện chính quyền thành phố, đại
diện các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế khác nhau, cả nhà nước và tư nhân, đặc
biệt là các chuyên gia trong lĩnh vực CNTT.
7. Phát triển hạ tầng viễn
thông chung cho Thành phố
- Thành phố Hà Nội
đă lập xong dự án khả thi xây dựng mạng MAN
giai đoạn I phục vụ quản lư hành chính trên
địa bàn. Năm 2005 bắt đầu triển khai xây
dựng mạng trục bằng cáp quang đi qua 4 trung tâm
dữ liệu chính của Thành phố. Mạng MAN là hạ
tầng truyền thông, sẽ được Thành phố
quan tâm đầu tư đúng mức để thực
hiện có hiệu quả.
Các giai đoạn tiếp theo sẽ
mở rộng đảm bảo cho các cơ quan
Đảng, Chính quyền Thành phố kết nối cáp
quang với mạng trục.
8. Xây dựng hạ tầng thông tin
Thông tin là tài sản của Thành
phố. Thông tin cần được quản lư và chia
sẻ giữa các cơ quan hành chính của Thành phố.
Hiện nay, việc quản lư thông tin là phân tán và do chia sẻ
kém nên nhiều thông tin làm lại, gây lăng phí và không thống
nhất.
Mô h́nh quản lư thông tin trong giai
đoạn trước mắt khi hạ tầng truyền
thông chưa hoàn thiện th́ vẫn phải là phân tán.
Mỗi đơn vị cần tổ chức để
quản lư tốt nguồn thông tin của ḿnh. Tạo thành
các Kho thông tin. Bước tiếp theo là tạo cơ
chế chia sẻ thông tin và tin học hoá tất cả các
Kho thông tin, kết nối chúng lại thông qua mạng cáp
quang của Thành phố ta sẽ được một kho
thông tin đầy đủ. Kho thông tin này có tầm quan
trọng như một hạ tầng. Trên cơ sở
hạ tầng thông tin này, có thể xây dựng các dịch
vụ bất kỳ.
Khi hạ tầng truyền thông phát
triển đảm bảo đủ điều kiện
th́ cần phải đưa thành mô h́nh quản lư tập
trung.
Hiện nay Thành phố đang xây
dựng các CSDL GIS, Dân cư, tài chính, kinh tế-xă hội, y
tế . . . là những kho thông tin nền tảng cho việc
quản lư và điều hành đô thị.
9. Xây dựng mô h́nh kiến trúc ứng
dụng Chính phủ điện tử. Hoàn thiện
cổng GTĐT Hà Nội:
Cuối cùng là phải xây dựng
lớp ứng dụng phong phú để cung cấp
trực tuyến cho công dân.
Thành phố Hà Nội hiện chưa
xây dựng được mô h́nh kiến trúc ứng
dụng Chính phủ điện tử nên có hiện
tượng các dự án không có phương án liên kết
với nhau, hầu hết là xây dựng độc lập.
Điều này cần được khắc phục. Mô
h́nh kiến trúc theo hệ thống IBM Websphere là một
kiến trúc hợp lư, cần được nghiên cứu
kỹ. Trên cơ sở mô h́nh
kiến trúc ứng dụng, Thành phố xây dựng qui
hoạch, lộ tŕnh và kế hoạch phát triển các
dịch vụ công trực tuyến phục vụ công dân,
đảm bảo được kiến trúc hệ
thống. Hệ thống văn bản qui phạm pháp
luật để quản lư và triển khai các ứng
dụng là cần thiết để đảm bảo
được sự thống nhất cũng như thu hút
được nguồn lực phát triển CNTT từ xă
hội vào việc xây dựng Chính phủ điện
tử.
Việc tuân thủ thực hiện theo
qui hoạch, lộ tŕnh, kế hoạch nêu trên đem
lại cho Thành phố một nền tảng kỹ
thuật vững vàng, kiểm soát và kế thừa
được. Cuối cùng là hoàn thiện cổng giao
tiếp điện tử Hà Nội, cải tiến,
mở rộng, nâng cấp các dịch vụ có nhu cầu
cao và cung cấp các thông tin cho Hanoi Portal theo hướng
phục vụ nhu cầu của người dân (user-centric
concept) để đảm bảo giải quyết các
thủ tục trực tuyến trên mạng, giảm
thiểu các phiền hà cho người dân, doanh nghiệp
thúc đấy một phương pháp làm việc mới,
phù hợp với xu hướng phát triển trên thế
giới hiện nay. Việc xây dựng cổng điện
tử không chỉ tập trung vào việc quản lư hành
chính mà chủ yếu tập trung vào phát triển một
nền tảng đáp ứng giao dịch thông tin thông qua
mạng máy tính.
Hoàn thiện cổng giao tiếp điện
tử của thành phố để thực hiện trao đổi
thông tin, dịch vụ trực tuyến thông suốt
giữa Chính quyền thành phố với các đối
tượng là nhân dân, giới doanh nghiệp và công
nghiệp, các cơ quan trực thuộc thành phố với
nhau và với các cơ quan Trung ương đóng trên địa
bàn.
Trên cơ sở kết quả
những thử nghiệm về các dịch vụ công
của Hà Nội, tiến hành đưa tất cả các
dịch vụ công của Hà Nội lên mạng với
mục tiêu đạt được mức độ ít
nhất có 50% các dịch vụ tương tác, 40% các
dịch vụ với các giao dịch được hoàn
thiện và 10% các dịch vụ phân phối theo các nhóm
người sử dụng, theo từng chuyên đề
hoặc từng mục đích.
Nghị định 49/CP đă nhấn
mạnh: “Phát huy tiềm năng nhân lực và trí tuệ là
yếu tố quyết định thành công của sự
phát triển CNTT”. Thực hiện tốt các việc
trên trở thành một
nhiệm vụ ưu tiên nhằm thực hiện thành công
CPĐT của Hà Nội, góp phần đắc lực vào
quá tŕnh cải cách hành chính của thành phố, từng
bước tăng cường mối liên hệ gắn
kết giữa Chính quyền với người dân,
với giới doanh nghiệp và công nghiệp, với các
cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời làm tăng
tính minh bạch, giảm thiểu thời gian thực
hiện giao dịch hành chính.
Với sự quan tâm đặc
biệt của Đảng, Nhà nước, Chính phủ,
của Thành uỷ và UBND thành phố Hà Nội, cùng với
sự quyết tâm của các cấp, các ngành, tất cả
các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội, các tổ
chức khoa học, kỹ thuật, CPĐT Hà Nội
nhất định sẽ thành công.