Tổng quan về Kiên Giang
Sông nước Kiên Giang
Nếu các tỉnh địa đầu phía Bắc được coi là "chiếc nón che đầu" của đất nước Việt Nam, thì đôi chân vạn dặm trường chinh tiến về phía Nam của dân tộc sau nhiều thế kỷ lấn biển, lập biên, mở cảng, dựng làng, xây phố để lập nên thế đứng vững vàng trên biển Đông chính là Cà Mau và Kiên Giang.
Kiên Giang.
Nằm ở nơi cuối cùng của Nam Bộ về phía tây Nam là Kiên Giang, một tỉnh còn rất trẻ, mới được thành lập vài chục năm trở lại đây, trên cơ sở hai tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên cũ. Tuy nhiên, địa danh hành chính Kiên Giang thì đã xuất hiện từ rất lâu. Điều này đều được ghi chép một cách rõ ràng, thống nhất trong các sách địa chí cổ.
Đã từng có một đơn vị hành chính đầu tiên là cấp đạo mang tên Kiên Giang, được thành lập từ năm Đinh Sửu 1757, trực thuộc trấn Hà Tiên. Lại có một huyện mang tên Kiên Giang được lập vào năm Gia Long thứ bảy (1808), cũng trực thuộc Hà Tiên. Các đạo và huyện mang tên Kiên Giang đều ở vùng Rạch Giá bây giờ.
Việc hình thành vùng đất Kiên Giang, bắt đầu từ cấp đạo, rồi huyện đều gắn liền với nhà Nguyễn, ghi dấu công lao to lớn trong công cuộc mở mang bờ cõi về phía Nam cho nước Việt. Sử sách đời sau khen ngợi rằng: "khiến cho nước lớn lên, người nhiều ra, và nhất là chiêu mộ những người nghèo khổ đưa đi khai hoá những đất phì nhiêu bỏ hoang, làm thành ra Nam Việt bây giờ phồn phú hơn cả mọi nơi".
Miền đất Rạch Giá, Kiên Giang xưa có 2 con rạch cùng đổ nước ra biển Tây Nam là Rạch Giá và Lạc Dục. Giữa 2 dòng chảy, 2 con rạch ấy đã tạo nên một cù lao, gọi là cù lao Giá, chính là miền Rạch Giá, Giá Khê sau này. Thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, Rạch Giá với tên chữ là Giá Khê là đất gốc của đơn vị hành chính cấp huyện mang tên Kiên Giang.
Còn Hà Tiên, trước khi là địa danh cấp huyện, rồi thị xã như bây giờ, vốn là tên gọi của cả một tỉnh lớn, còn lớn hơn toàn bộ tỉnh Kiên Giang hiện nay. Năm 1832, khi toàn bộ miền đất Nam Kỳ rộng dài được chia thành 6 tỉnh, Hà Tiên trở thành một trong 3 tỉnh của vùng Tây Nam Bộ, bao gồm một miền đất rộng lớn từ phía Tây sông Hậu tới biển Đông. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, người Pháp đem chia tỉnh Hà Tiên từ thời Nguyễn thành 4 tỉnh nhỏ, mà 2 trong số đó là Hà Tiên và Rạch Giá.
Văn hoá Óc Eo từng phát triển ở Kiên Giang
Nhưng không phải chỉ là trong mấy trăm năm gần đây, con người mới đến khai phá và sinh sống ở Kiên Giang. Những di chỉ của nền văn hoá Óc Eo tìm thấy trên mảnh đất này cho thấy, khoảng hai nghìn năm trước, Kiên Giang là một trung tâm văn minh của vương quốc Phù Nam và vùng cảng thị cực Tây Nam - từng là trung tâm thương mại lớn nhất vùng Đông Nam Á thời đó. Sự cường thịnh của nền văn minh và quốc gia cổ đại ấy chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định những năm trước và sau Công nguyên, nhưng những giá trị của nó thì tồn tại lâu dài, để lại nhiều dấu ấn ngay trong cuộc sống của người Việt, người Khơ me, rồi người gốc Hoa... bây giờ.
Kiên Giang ngày nay đã vững vàng tồn tại cùng đất nước, là một phần thuộc chủ quyền của quốc gia. Cửa khẩu Xà Xía cũng đã có một đồn biên phòng để giữ gìn sự bình yên cho miền đất địa đầu Tổ quốc. Nếu như cửa khẩu Xà Xía là đại diện cho Việt Nam làm nơi tiếp giáp, tiếp xúc và giao tiếp với Campuchia trên đất liền, thì mũi Gành Dầu thuộc đảo Phú Quốc lại là nơi tiếp giáp gần nhất về đường biển giữa hai nước với khoảng cách 8km.
Dòng họ Mạc mở mang và gìn giữ đất Kiên Giang
Ngôi đền thờ dòng họ Mạc nhắc về một thời kỳ lịch sử của miền đất Kiên Giang cách đây hơn 300 năm. Thời ấy, vào thế kỷ 17-18, những người con của dòng họ Mạc đã có công mở mang, phát triển miền đất Hà Tiên hoang sơ thành một nơi buôn bán trù phú, phồn thịnh, mà người có công đầu phải kể đến là Mạc Cửu.
Trên núi Bình San ngày nay vẫn còn những ngôi mộ của dòng họ Mạc. Nếu như Mạc Cửu có công khai mở nên trấn Hà Tiên, đưa vùng Mang Khảm trước đây trở thành vùng đất có chủ quyền, thì việc chăm lo mở mang phố xá ở trấn lỵ Hà Tiên, phát triển buôn bán và ngăn chặn giặc ngoại xâm, lại thuộc về con trai ông là Mạc Thiên Tích và những người cháu là Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Sanh.
Ngày nay, vẫn còn những dấu tích của một tao đàn mang tên Chiêu Anh Các, được Mạc Thiên Tích sáng lập, từng trở thành một hiện tượng văn học tại xứ Đàng trong, với hàng loạt tác phẩm như Hà Tiên thập cảnh toàn tập, Hà Tiên vịnh vật thi tuyển, Châu thị trinh liệt tặng ngôn... Không chỉ là một vùng đất trù mật, mà Hà Tiên của thế kỷ 18 còn là nơi nổi bật về văn hoá, một miền đất đẹp, trù phú và nên thơ.
Từ 7 xã, thôn do Mạc Cửu lập nên, nhờ sự góp sức của lưu dân người Việt tứ xứ tụ hội ở các nơi có tên cổ là: Sài Mạt, Phú Quốc, Cần Bọt, Rạch Giá, Lũng Cây, Vũng Thơm, Cà Mau..., một trấn Hà Tiên đã ra đời và định hình để tồn tại và phát triển thành thị xã Hà Tiên ngày nay.
Sông nước Kiên Giang
Khi những cư dân người Việt đầu tiên đặt chân đến Kiên Giang thì miền đất này còn hoang vu lắm. Nhưng họ đã tận dụng hệ thống sông rạch chằng chịt mà thiên nhiên phú cho nơi này để xây dựng nên một vùng sông nước sầm uất. Kiên Giang có 3 dòng sông lớn là sông Cái Lớn, Cái Bé và sông Giang Thành. Nhờ hệ thống kênh rạch chằng chịt, Kiên Giang một nguồn tôm cá nước ngọt và nước lợ dồi dào. Còn vùng biển Tây Nam mênh mông rộng tới 63.000 km2 lại cung cấp cho mảnh đất này một lượng hải sản khổng lồ.
Đảo Phú Quốc - xưa oai hùng, nay phồn thịnh
Vào thời nhà Nguyễn, khi đảo Phú Quốc còn thưa thớt người ở thì cũng từng bị đe doạ bởi quân cướp biển nước ngoài. Đến năm Minh Mạng thứ 2 (1821), Phú Quốc mới có bảo đất, tức là đồn canh, để phòng thủ. Đảo Phú Quốc khi ấy thuộc địa phận huyện Hà Châu, mà tiền thân chính là huyện Hà Tiên thời Nguyễn.
Các sách xưa cũng như nay đều ví Phú Quốc như một con cá khổng lồ, miệng há rộng ở phía Bắc, đuôi ở phía Nam. Chiều dài của đảo là 50km, rộng là 28km, cách đất liền 120km. Khi xưa, Nguyễn Ánh đã chọn nơi đây làm chỗ ẩn nấp khi bị quân Tây Sơn truy đuổi. Sau này, khi lên ngôi, ông ta vẫn không quên mảnh đất này nên cho người ra khai khẩn mở mang, dần biến nơi đây thành một miền giàu có.
Phú Quốc nằm trong vùng biển ấm, nơi có điều kiện sinh tồn thuận lợi cho nhiều loài động thực vật biển. Bến cảng An Thới lại được các đảo che chắn an toàn... càng tạo đà cho hòn đảo này phát triển mạnh, đặc biệt là về nghề đánh bắt và chế biến thuỷ sản. Phú Quốc từng là nơi thuyền bè từ Cao Miên, Xiêm, rồi nhiều nơi trong cả nước ra vào tấp nập mua tôm khô, cá khô, nước mắm.
Đến trước năm 1945, dân cư trên đảo Phú Quốc thường không vượt quá con số 6.000, trong khi hiện nay là hơn 70.000 người. Xưa kia, trên đảo, người Hoa sống bằng nghề buôn bán, trồng tiêu, người Khmer thì làm rẫy, bứt mây, lột tràm, còn người Kinh đánh tôm cá, làm nước mắm. Còn ngày nay, trải qua những biến động của thời gian, các cư dân trên hòn đảo Phú Quốc đã thực sự biết góp sức vào nhau, nương tựa vào nhau, làm nên một Phú Quốc trù phú và giàu có.
Có một năm vừa là mốc lịch sử của nghề cá lại vừa là mốc lịch sử của nghề tiêu Phú Quốc. Đó là năm 1925, lượng cá cơm đánh bắt trên đảo được nhiều đến nỗi phải đổ cá xuống biển hoặc chuyển qua làm phân bón cho các vườn tiêu. Tiêu Phú Quốc nổi tiếng khắp miền cả nước, và vào thời điểm năm 1937, thì nơi này đã trở thành một trung tâm trồng tiêu lớn nhất của Nam Kỳ.
Nghề trồng tiêu Phú Quốc gắn liền với sự phát triển của vùng đảo này, đã có từ lâu đời, do nhóm người Hoa chi phối. Về sau, khi người Pháp xâm chiếm Phú Quốc thì một số vườn tiêu của Phú Quốc nằm trong tay các điền chủ Pháp. Khu vực phía Bắc của đảo vốn là nơi tập trung trồng tiêu nhiều nhất hiện nay, thì cũng là nơi còn lại nhiều nhất những cánh rừng nguyên sinh trên đảo.
Lịch sử Cách mạng của cả dân tộc Việt Nam mãi mãi không bao giờ có thể phai mờ về những ngày chiến đấu oanh liệt của miền biển đảo Phú Quốc này. Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chọn nơi này đặt các trại giam tù binh. Trong những năm tháng chống Mỹ khốc liệt, cùng với Côn Đảo, một hòn đảo được Mỹ - Nguỵ chọn làm nơi giam giữ tù chính trị, thì nhà tù Phú Quốc với 40.000 tù binh chiến tranh trong khắp cả nước dồn về trở thành một nơi phơi bày tội ác của quân xâm lược.
(Nguồn: Hồng Trang - vtv.vn)
|
top |



